Mùa thu châu thổ

William Faulkner – Nhà văn Mỹ – Nobel 1950

Chẳng còn bao lâu nữa họ sẽ tới miền châu thổ. Hơn hai mươi năm nay, cảm giác quen thuộc này lại trở về với lão mỗi năm đúng vào hạ tuần tháng mười một. Dưới chân ngọn đồi cuối cùng, đất đai phù sa màu mỡ trải dài liên tục như biển cả bắt đầu từ chân vách đá. Phù sa sẽ trôi đi dưới mưa dầm tháng mười một như biển cà rồi cũng trôi đi.

Ban đầu họ tới từng cổ xe với nào sung ống, chăn mền, chó săn, thức ăn, rượu Whis-key, và niềm háo hức đi săn.Các thanh niên có thể lái xe một ngày một đêm dưới trời mưa lạnh buốt và dựng lều trong mưa mà ngù không kể gì chăn mền ẩm ướt để rồi sang hôm sau trở dậy đi săn.

Ngày trước ở đây vẫn có gấu, và bắn hươu cái hay nai tơ thì cũng thường như hạ một con đực. Chiều chiều họ cầm sung lục bắn gà rừng để thử tài rình rập và thiện xạ, lấy thịt ăn và vứt long cho chó. Nhưng thời ấy chỉ còn vang bong. Giờ thì đi xe hơi, mỗi năm họ lái dễ dàng hơn vì đường xá tốt lên dần. Nhưng họ phải vào sâu vì đất săn được cứ mất dần theo năm tháng như đời lão mất dần.

Cho tới nay lão là người cuối cùng trong số người từng lang bạt hân hoan trên các cỗ xe xưa. Giờ đây đám người theo lão chỉ là con cháu những kẻ xưa kia dưới mưa tuyết suốt hai mươi bấn giờ liền ngồi sau mấy con la kéo xe thở ra khói. Đám người ấy gọi lão là bác Ike và lão không còn bảo cho ai biết số tuổi  gần bảy mươi của mình. Bởi lão cũng như họ thừa biết là lão không còn dự vào cuộc săn bắn đó nữa, dẫu đi bằng xe hơi.

Giờ đây, thật tình cứ vào đêm đầu cắm trại nằm đau nhức trong chăn khô, phải dùng cốc rượu pha nước duy nhất rất loãng, máu lão chỉ mới hơi ấm thế thôi, lão tự nhủ đây hẳn là lần cuối cùng. Vậy mà lão vẫn qua được chuyến đi săn ấy (vẫn bắn cừ như bao giờ, vẫn hạ nhiều con mồi như trước, chẳng còn nhớ được bao nhiêu nai đã quị trước nòng súng của mình). Rồi sức nóng kinh hồn của mùa hè tới biết đâu sẽ làm lão hồi phục.

Tháng mười một rồi sẽ quay về và lão lại ngồi xe hơi với hai đứa con trai của các bạn cũ. Lão bày cho họ thấy không những dấu chân hươu đực khác hươu cái mà tiếng chân cũng khác. Lão nhìn qua vòng cung trên kính xe mà cái quạt nước đã quét thành. Mặt đất bỗng trải phẳng và trôi đi dưới mưa nư biển cả. Và lão bảo:

_Bây giờ, lại nữa kìa.

Nhưng lần này lão chẳng kịp nói. Tài xế thắng xe đột ngột, trượt bánh trên con đường trơn ướt khiến lão McCaslin đang nhìn con đường trống vắng trước mặt, quay nhìn tài xế cách người ngồi giữa, thấy khuôn mặt y trẻ nhất đám, ám tối như chim ưng, khôi ngô, tàn bạo và lầm lì. Y âu sầu nhìn qua khuôn kính mờ được hai cái quạt nước quét qua lại.

_Tôi có muốn tới đây lúc này đâu – Y nói.

Y tên là Boyd, tuổi hơn bốn mươi. Y là chủ chiếc xe hơi này cũng như hai con chó săn Walker trong đám ba con chó ngồi ở phía sau. Cũng như y cũng là chủ hay đúng ra là chở theo hết những gì dùng tới: súc vật, máy móc hay con người.

_Anh cũng nói thế ở Fefferson tuần trước, Mc Caslin bảo – Rồi anh đổi ý. Lại đổi nữa à?

_Ồ, dọn tới đây là…

Người thứ ba chen vào, nói lửng. Tên hắn là Legate. Hắn dường như chỉ nói cho mình nghe:

_Phải chi mà từ xa anh đến vì một con hươu đực. Nhưng anh lại có một con hươu cái ở đây. Một con cái hai chân. Lại trắng trắng xinh xinh nữa chứ. Cái con mà anh theo đuổi hằng đên trong suốt mùa thu năm rồi, dạo anh nói đi săn linh miêu ấy mà. Cái con mà có lẽ anh vẫn còn săn đón suốt tháng giêng năm rồi.

Hắn cười giòn, vẫn giữ cái giọng  tự nhủ như thế, không hẳn là cười chế giễu.

_Gì vậy? – Mc Caslin hỏi – Chuyện gì vậy?

À, bác Ike – Legate nói – đó là chuyện mà ở vào tuổi bác, bác chẳng mấy quan tâm từ hai mươi năm nay.

Nhưng Mc Caslin chẳng buồn ngó Legate. Lão cứ ngắm gương mặt Boyd bằng đôi mắt đeo kính, đôi mắt của một người già tuy mờ nhưng còn khá tinh tường, đôi mất còn thấy rõ nòng súng và những gì chạy trước nó chẳng thua ai.

Giờ thì lão nhớ lại năm rồi, khi đi thuyền máy trong chặn chót đến chỗ  dựng lều thì một thùng lương thực lăn xuống nước và hôm sau Boyd quay lại thị trấn gần đó mua đồ dự trữ. Y đi cả đêm và khi về khác lạ. Vẫn tinh mơ mang súng vào rừng như người khác nhưng Mc Caslin để ý, biết hắn chẳng săn bắn đâu.

_Thôi được – lão nói – Anh đưa Will legate và tôi đến trạm chờ xe hàng rồi anh quay về.

_Tôi phải đi – Boyd gắt gỏng – Tôi đi làm phận sự vì đây là dịp cuối cùng.

_Dịp cuối cùng săn hươu à, chắc săn hươu cái? – legate nói.

Mc Caslin lúc này không ngó ngàng tới Legate dù hắn nói chen vào. Lão vẫn ngắm gương mặt lặng lẽ man dại của Boyd.

_Sao thế? – Lão hỏi.

_Đợi Hitler làm xong việc à? Hay Yokohama hay Pelley hay Smith hay Jones hay cái gì mà hắn tự xưng ở xứ này.

_Chúng ta sẽ chặn hắn ngay thôi trong xứ này – Legate nói – Cho dù hắn có tự nhận mình là George Washington đi nữa.

_Chặn cách nào? – Boyd hỏi – Cứ hát quốc ca trong quán rượu nửa đêm hay mang hình lá cờ trên ve áo?

_Thế ra đó là điều làm anh bận tâm – Mc Caslin nói – Tôi không hay là xứ sở này thiếu người bảo vệ lúc cần. Chính anh đã làm phận sự ấy hai mươi năm trước khá tốt nếu các huân chương anh mang về có ý ngĩa thật sự. Xứ sở này là một em bé tuy vậy mạnh mẽ và lớn lao hơn mọi kẻ ở trong hay ở ngoài nó. Tôi cho rằng nó dám chống cự với một anh thợ dán giấy vách ở  nhà người Áo dù anh ta tự xưng là gì đi nữa. Bố tôi và hai người giỏi hơn những kẻ mà anh vừa kể tên đã từng gây chiến nhằm xé đôi nó ra mà không được.

_Và rồi bác còn lại gì? – Boyd nói – Nửa dân số thất nghiệp và nhà máy đình công. Quá nhiều bong nhiều ngô nhiều thịt thế dân không đủ ăn đủ mặc. Quá nhiều kẻ không có bơ không có súng…

_Chúng ta có trại săn hươu nếu chúng ta đi tới – Legate nói – Chưa kể hươu cái.

_Đến lúc cần kể ra rồi đấy – Mc caslin nói – cả hươu cái lẫn hươu con. Cuộc chiến đấu đáng kể nhất được Chúa ban phép lành là chiến đấu bảo vệ hươu cái và hươu con. Có đi chiến đấu như thế thì đáng kể ra và nhắc lại.

_Đã sáu mươi năm rồi bác vẫn chưa nhận thấy đàn bà và trẻ con chẳng bao giờ thiều à? – Boyd nói.

_Có thể đó chính là điều tôi lo đấy mà còn mười dặm đường nữa mới tới cắm trại – Mc Caslin nói – Đi thôi.Họ tiếp tục đi. Họ lại đi nhanh như trước. Boyd phóng xe chẳng cần hỏi ai mà thắng xe cũng chẳng báo trước.

Mc Caslin lại nghĩ ngơi. Hơn hai mươi năm nay, cứ vào tháng mười một là lão đến đây xem xét giải đất cứ biến đổi dần.

Ban đầu chỉ có những thị xã cũ ven song và những thị xã cũ ven đồi. Rồi các người trồng tỉa và nô lệ và nhân cong thuê khai thác khu rừng rậm đầm lầy um tùm lau sậy, trắc bá, bạch đàn nhựa, ô rô, sồi, tần bì, bong vải ấy trong nhiều năm thánh đồng ruộng và đồn điền.

Các lối mòn của hươu và gấu thành đường lộ. Thành thị lần lượt mọc lên ven đường và ven hai song Tallahatchie và Sunflower. Hai song gặp nhau thành dòng Yazco, con song Chết của bộ tộc Chotawc. Dòng nước lừ đừ, đen tối, không nắng mặt trời hằng năm  cứ một lần ngưng chảy mà dâng lũ tràn ngập giải đất mầu mỡ và rồi lại rút đi, làm cho đất càng phì nhiêu hơn.

Chuyện đấy bây giờ đã hết. Giờ phải đi xe hai trăm dặm từ Fefferson mới gặp rừng hoang mà săn bắn. Giờ thì giải đất trải ra từ đồi phía đông đến tận lũy đê phía tây với bong vải cao bằng người cưỡi ngựa mà thế giới rất cần.

Giải dất đen trù phú, bát ngát mênh mông, dồi dào phù sa đến tận bậu cửa người da đen làm việc và hiên nhà người da trắng làm chủ. Nó làm kiệt sức một năm săn mồi trong  đời một con chó, năm năm làm việc trong đời của nột con la và hai mươi năm lao động của một con người. Đó là giải đất mà ánh đèn neong từ bao nhiêu thành thị hất tới những chiếc xe hơi mới từng năm một lien tục phóng qua  trên những xa lộ thênh thang hoàn hảo.

Tuy thế ở đây dấu hiệu duy nhất cho thấy con người chiếm cứ lại là các láng tỉa hạt bong đồ sộ trong những khu nhà tôn chỉ mất một tuần lễ dựng nên. Dù triệu phú đi nữa cũng không ai xây cất gì hơn. Chỉ cần láng che và bốn vách để ở, đồ dùng cắm trại để sống ví thừa biết rằng cứ độ chừng mười năm là nước lụt tràn lên tới tầng nhì và phá hại mọi thứ.

Đó là giải đất mà tiếng con báo gầm thét đã nhường cho tiếng còi xe lửa: những toa xe dài không thể tưởng nổi thế mà chỉ kéo bằng một đầu máy duy nhất mà thôi vì chẳng hề có dốc cao. Chỉ có các gò đất mà thôi dân cũng như người gánh nước lũ hằng năm đắp lên và sau đó các người da đỏ dùng làm nơi chon cất hài cốt cha ông. Dấu vết thời xưa chỉ còn lại trong các tên da đỏ của các thành thị nhỏ gắn liền với song nước – Aluschaskuna, Tillatoba, Homachitto, Yazoo.

Xế trưa họ tới bờ song. Ở thị trấn cuối cùng mang tên da đỏ, họ tụ tập bên vệ đường chờ đởi cho đến khi chiếc xe hơi khác và hai xe hàng – một chở chăn mền lều vải, một chở ngựa – đuổi kịp mình. Rồi họ rời con đường lát đá và sau chừng một dặm đường, bỏ luôn con đường trải sỏi, và đi thành doàn băng qua  giữa buổi xế trưa với những bánh xe lắc lư để lại những vết lún tung tóe đất.

Cho đến giờ này dường như lão hồi tưởng theo một tốc độ nghịch với sự di động quá chậm chạp của đoàn. Đất lùi đoạn đường trải sỏi đâu phải từng giây phút mà lùi hàng chục năm, trở lại thời mà lão vừa mới nhìn thấy nó lần đầu. Con đường họ đang đi xưa kia là lối gấu, nẻo hươu. Cánh đồng họ đang qua xưa kia bị đào xới lunh tung, đốn chặc tơi bời va chiếc cày la kéo quần trên cõi hỗn mang chẳng còn ai nhớ lấy thay vì được các máy cày, bừa vạch thành ô rộng lớn như hiện nay.

Họ để xe hơi và xe tải ở bến, những con ngựa đi men dòng song tới chỗ đối diện vói trại chờ qua song. Còn họ thì đem chăn mền, thức ăn, lều vải và chó săn xuống xuồng máy.

Bây giờ, đặt khẩu súng cũ hai nòng cũng cổ lỗ gần như lão lên đầu gối, lão ngắm nhìn những dấu hiệu cuối cùng ít ỏi của con người – lều, khoảng rừng trống, những cánh đồng nhỏ mới năm trước còn rậm rạp và năm nay vươn lên những cây bong cao thẳng và san sát như lau sậy lúc trước. Dường như con người phải kết hợp sự trồng trọt với hoang dã hầu chinh phục nó.

Dấu hiệu con người giảm dần rồi mất hẳn trên đôi bờ hoang vu mà lão còn nhớ rõ. Đám hồng hoang lẫn lau sậy chen chúc làm ta không nhìn thấy gì quá hai mươi bộ. Nhưng thân cây cao lớn của sồi, bạch đàn nhựa, tần bì và hồ đào không ai động rìu ngoài thơ săn không âm vang tiếng máy nào ngoài thuyền hơi nước xưa nay và tiếng xuồng máy giống như của họ vào sống một hai tuần bởi vì nó vẫn còn hoang dã.

Một số nét cũ còn sót lại dù bây giờ nó đã cách xa Fefferson hai trăm dặm khi mà ngày xưa chỉ có cách ba mươi. Lão đã ngắm nhìn nó, không phải bị chinh phục, hủy diệt, mà chỉ lui về. Bởi vì mục đich của nó đã hoàn thành và nó đã lỗi thời. Nó lui về phương nam, xuyên qua dãi đất hình thành giữa núi đồi và song nước này. Cho tới khi nó thu những gì còn lại nơi mình và ngưng tụ lại trong cái rậm rì bao phủ nỗi bì hiểm bất khả xâm phạm ở đầu mút cuối cùng – như một cài phểu.

Tới chỗ cắm trại năm ngoái thì vẫn còn hai giờ nữa mới hết ánh sang.

_ Bác ra dưới gốc cây khô kia mà nghỉ – Legate nói. Để tôi và đám trẻ lo.

Nhưng lão không đi. Khoác áo mưa, lão chỉ bảo việc dỡ đồ đạt từ thuyền lên – lều, bếp lò, chăn mền, lương thực cho người và cho chó trước khi săn được thịt rừng. Lão sai hai người da đen đi chặt củi. Lão cho dựng căn lều nấu bếp và kịp thời cho đốt lửa nấu ăn chứ chưa đóng cọc lều lớn.

Lúc trời chạng vạng, lão đi xuống chỗ mấy con ngựa đang chờ, chúng khịt mũi và bước tránh khỏi nước. Lão nắm dây cương nhẹ nhàng và lên tiếng mà dắt chúng xuống nước. Lão nắm giữ chúng bên cạnh mạng thuyền, để chúng cất đầu lên khỏi mặt nước trông như mấy con ngựa đang treo từ đôi bàn tay gầy yếu của lão trong khi chiếc xuồng quay lại bờ.Và mỗi con ngựa đều bị nghiêng ngã ở mấy chỗ cạn, run rẩy thở dốc, mắt đảo trong ánh chiều tàn cho đến khi cũng bàn tay nhẹ nhàng và giọng nói cất cao lùa chúng lên bờ tung tóe nước.

Bữa ăn chuẩn bị xong. Nắng cuối ngày đã tắt, chỉ còn một vệt sang mong manh lạc giữa mặt song và cơn mưa. Lão cầm ly rượu pha nước và họ đứng ăn trên bùn dưới tấm vải nhựa căng che.

Nô lệ da đen đã làm xong dường cho lão. Chiếc giường sắt vững vàng, tấm nệm bẩn không êm lắm và chăn mền xơ xác bạc màu theo năm tháng không còn ấm nữa.

Chỉ mặc đồ lót nỉ, kính bỏ vào chiếc hộp cũ đặt dưới gối để tiện dùng va thân gầy chui gọn vào giữa chăn nệm, lão nằm ngửa, đặt tay lên ngực và nhắm mắt trong khi các người khác cũng đi ngủ và tiếng nói chuyện bặt trong tiếng ngáy.

Riêng lão mở mắt ra nhìn lên trần lều bất động rì rào tiếng mưa không ngớt và ánh lửa hất lên từ bếp lò sắt mờ dần đi cho đến khi cậu bé da đen nằm trên ván gần lò nhổm dậy cời lửa theo phận sự, đoạn nằm xuống.

Ngày xưa có một ngôi nhà. Đó là vào mấy mươi năm trước, khi vùng rộng lớn này chỉ cách Fefferson có ba mươi dặm đường. Người chỉ huy đội kỵ binh của cha lão trong những năm đầu sau 1860, là người có chin mươi khu đất săn của rừng này đã dẫn lão, lúc ấy chỉ còn là một cậu bé, vào rừng lần đầu tiên trong đời.

Và một người da đỏ lai da đen lúc ấy đã dạy cậu cầm súng. Vào một rạng đông tháng mười một như sang mai đây, ông ta dẫn cậu thẳng tới một cây bách lớn đợi con hươu mà ông biết chắc sẽ chạy qua như thể ông ta và con hươu chung một điều gì đó chảy trong dòng máu hai bên. Đứng tựa thân cây to lớn, họ là một ông già và một cậu bé mới mười hai tuổi. Chẳng còn gì khác ngoài rạng đông.

Thế rồi con hươu đột hiện, màu khói nhạt, lộng lẫy lướt đi. Ông ta bảo: “Nào, bắn sao cho khéo” và súng từ từ đưa lên, nổ đoàng. Ông ta bước lại gần con hươu nằm bất động vẫn còn trong tư thế lướt đi lộng lẫy và đâm nó đổ máu. Ông ta nhúng tay vào làn máu còn nóng hổi đoạn vẽ lên mặt cậu dấu hiệu đời đời trong khi cậu cố đứng không run rẩy, vẽ nhúng nhường pha tự đắc dù còn là cậu bé hai mươi tuổi. Cậu không biết nói gì trong trường hợp này, như “Ta giết mi, mong rằng dấu máu ta mang không làm mi ra đi nhục nhã. Hành động ta vĩnh viễn tiến lên, phải xứng đáng với cái chết của mi từ đây”

Thời đó họ có một ngôi nhà. Dưới mái ấy họ ở hai tuần mỗi mùa thu. Nó thành chốn thân tình. Sau cái thời ấy, đến mùa thu họ dựng lều cùng một chỗ hai năm lien tiếp.

Giờ đây bạn đồng hành của lão là con cháu của những người đã từng sống trong ngooi6 nhà ấy với lão. Và cả ngôi nhà ấy cũng chẳng còn. Niềm tin và cảm giác thân tình giờ chuyển qua lều vải.

Lão có một ngôi nhà ở Fefferson là nơi lão đã từng sống với vợ con. Ngôi nhà được cháu gái của người vợ quá cố trông nom và lão thấy mình được người thân thuộc chăm nom đầy đủ. Nhưng lão sống ở đây chỉ để mong ngóng tháng mười một. Bởi vì căn lều bùn đất này với cái giường không êm gì mấy này lại là chốn thân tình. Và những người này dù có khi chỉ gặp đôi ba tuần lễ còn thân hơn họ hàng. Bởi vì đất này là của lão…

Bóng cậu bé da đen chập chờn trên trần then ánh lò sưởi đang tàn lụn. Những thanh củi được đẩy vào cho đến khi ngọn lửa bùng lên thành ngọn, sang rực căn lều… Bóng cậu da đen vẫn còn đó cho tới khi Mc Caslin  chống một khủy tay lên, thấy không phải cậu bé da đen mà là Boyd.

Khi lão đánh tiếng, y quay đầu lại, gương mặt trông u ám và tàn nhẫn.

_Không có gì đâu – Boyd nói – Bác ngủ tiếp đi mà.

Mc Caslin đáp:

_Nghe Will Legate nói, tôi mới nhớ mùa thu năm rồi ở đây anh cũng khó ngủ. Lúc đó anh bảo là đi săn linh miêu. Hay chỉ Will Legate nói thế?

Boyd không trả lời. Y quay lại giường mình.

Mc Caslin vẫn chống khủy tay nhìn bong y chìm xuống túp lều và mất dần.

_Thôi được – lão nói – Rán mà ngủ đi. Mai phải săn cho được thịt. Rồi anh muốn theo đuổi gì thì theo.

Và lão cũng nằm xuống, bàn tay đan nhau trên ngực, ngắm nhìn ánh lửa trong lò. Lữa giờ đã bùng, củi tươi đã bén, cháy đều. Rồi chẳng bao lâu lủa cũng tàn lụn, mang theo vang bong cuối cùng của nỗi xao xuyến và đam mê cháy bỏng ở người thanh niên.

Cứ mặc y thao thức. Một ngày kia y sẽ ngủ yên không chút bận long. Và nằm thao thức trong lều biết đâu y sẽ nguôi ngoai, Nếu còn có điều gì làm một người đàn ông tứ tuần nguôi ngoai được.

Túp lều dìu dịu mưa rơi giờ nghe dầy hơn. Lão nằm ngữa, nhắm mắt lại, thở êm đềm như trẻ thơ, lắng nghe tiếng mưa rơi – Sự im lặng không bao giờ chỉ lặng im. Lão hầu như nhìn thấy nó, dữ dội, man dã, lù mù bao phủ sự náo loạn phù du trong chốn tạm trú này mà chỉ một tuần ngắn ngủi nữa thôi sẽ biến mất và thêm tuần nữa sẽ phục hồi lại hoàn toàn sự cô tịch nguyên sơ không dấu vết con người.

Bởi vì đất này là của lão dù lão chưa bao giờ làm chủ một tất đất nào. Lão chưa bao giờ muốn có đất, cả khi chứng kiến sự tận số của nó, bắt đầu nhìn thấy nó thụt lùi từng  năm trước sự tàn sát của búa rìu, lưỡi cưa và những đường ray chuyển gỗ. Rồi thì mìn phá và máy cày bởi vì đất có phải của riêng ai đâu. Nó thuộc về mọi người, Chỉ cần họ biết khai khẩn một cách nhúng nhường pha tự đắc.

Bỗng dưng lão hiểu ra  vì sao không cần đất riêng để ít ra chặn lại cái mà người ta gọi là sự tiến bộ. Có cần gì. Lão nhìn thấy cả hai – lão và sự hoang dã – dường như đồng tuổi – từ thời lão là một thợ săn, một tiều phu chứ không phải từ khơi thở đầu đời. Đó là điều đã đến với lão và lão tiếp nhận hân hoan, nhún nhường, với niềm vui pha tự đắc từ viên thiếu tá và người da đỏ lai đã dạy lão săn bắn. Thời gian của cả hai không phải trong lãng quên và hư vô mà trong cõi miền chẳng còn lệ thuộc vào thời gian và không còn nữa, nơi đất trống, lại bị cắt xén thành từng ô vuông trồng bong san sát cho bọn người cuồng loạn ở đông bán cầu biến nó thành đạn mà bắn giết nhau. Lão thấy còn dư chổ cho cả hai. Đó là cõi miền của những bong cây đại thụ và bụi rậm mù mịt, nơi đám dã thú bất tử chạy mãi mãi trước bọn chó săn bất tử đuổi hoài hoài, ngã xuống và hồi sinh, như phượng hoàng trước họng súng êm đềm không vang tiếng.

Rồi lão thiếp đi. Lống đèn được thắp lên, lều đầy tiếng di động của những người thức dậy, thay quần áo. Và bên ngoài còn tối, người bõ già da đen gõ thìa vào xoong mà gọi:

_Dậy đi, dậy sớm uống café. Dậy đi, dậy sớm uống cà phê.

Lão còn gọi Legate nói:

_Ra ngoài kia để yên bác Ike ngủ. Nếu làm bác thức thì bác khăng khăng đòi đi. Mà bác không việc gì phải vào rừng sang nay.

Vì thế lão không động  đậy. Lão nghe họ rời lều, nghe tiếng họ ăn sang quanh chiếc bàn  đặt dưới tấm vải nhựa căng che. Rồi lão nghe họ lên đường – tiếng ngựa, tiếng chó và tiếng nói cuối cúng mất hút. Sau đó lão còn nghe thầy tiếng còi săn văng vẳng trong khu rừng ẩm ướt nơi có hươu ẩn náu.

Lão lại ngủ tiếp. Nắp lều chợt mở ra và cái gì đó va vào giường. Một bàn tay nắm lấy đầu gối lão qua lần chăn và lay lão mở mắt.

Đó là Boyd, mang súng hai nòng thay vì súng của y. Y nói vội vã:

_Xin lỗi phải đánh thức bác dậy. Có chuyện…

_Tôi vẫn thức – Mc Caslin nói – Hôm nay anh đi săn chứ?

_Đêm qua bác bảo là cần thịt mà – Boyd nói – Có chuyện…

_Anh bắt đầu lo lắng chuyện cầm súng đi khiếm thịt từ bao giờ thế?

_Được rồi – y bồn chồn nói, tay cầm một gói đầy. Sáng nay sẽ có một người đàn bà đến kiếm tôi. Bác đưa dùm tôi cài này và nhắn cô ta rằng tôi bảo không.

_Gì thế? – Mc Caslin hỏi – Cái gì thế?

Lão vừa chống khuỷ tay lên thì y đã bỏ cái gói xuống chăn trước mặt lão mà quay ra cửa. Mc Caslin bắt kịp cái gói nặng trĩu suýt rơi khỏi giường. Qua lớp giấy bọc lão cảm thấy thếp giấy bạc dày cộm.

_Khoan đã – lão nói – Khoan đã.

Y dừng bước, quay nhìn lại. Họ nhìn nhau – gương mặt già nhệt nhạt trên chiếc giường xô bồ và gương mặt trẻ khôi ngô lạnh lung cáu giận.

_vậy là Will Legate nói đúng – Mc Caslin bảo – Đây là cái mà anh gọi là săn linh miêu.Và bây giờ là cái này đây.

Lão không buồn nhấc cái gói lên hoặc chỉ tay vào nó

_Anh hứa gì với cô ta mà đến nỗi không dám giáp mặt, lại rút lui thế?

_Chẳng hứa gì hết – Boyd đáp – Chỉ có thế – Nhắn cô ta rằng tôi bảo không.

Y đi ra. Nắp lều vén lên để lọt vào một làn ánh sang mờ và tiếng mưa rì rào rồi đậy xuống lại. Mc Caslin vẫn còn nghiêng nghiêng, bàn tay run rẩy vẫn nắm chặc gói giấy. Dường như Boyd chưa kịp khuất hẳn thì lão nghe thấy tiếng xuồng tiếng lại gần. Dường như lão không thấy gì gián đoạn: tiếng máy to dần, gần lại đoạn tắt hẳn và tiếng nước bì bõm dưới mũi xuồng khi nó cập bờ.

Cậu bé da đen đẩy nắp lều lên và lão thấy chiếc xuồng ngay lập tức – một chiếc thuyền nhẹ có một người da đen ngồi phía sau lái cạnh động cơ nằm nghiêng. Rồi người đàn bà bước vào, đội mũ, mặc áo mưa đàn ông và đi giầy cao su, mang theo một gói gì đó quấn chăn và vải nhựa, mang theo một cái gì đó mơ hồ, một vẻ gì đó mà lão biết sẽ tìm ra vì người bõ già da đen đã sai cậu bé da đen  tới báo trước rồi. Một gương mặt trẻ với đôi mắt nhung, tuy nhợt nhạt nhưng không có vẻ gì đau yếu và dù cho có mặc áo quần như thế lại không phải là một người đàn bà quê mùa.

Nàng nhìn lão đang ngồi trên giường, nắm chặc gói giấy, áo nỉ lấm bẩn trên mình và chăn quấn quanh hông.

_Cái đó là của nó chứ gì? – lão nói – Đừng nói dối ta!

_Vâng – nàng đáp – Anh ấy đi rồi.

_Y đi rồi – lão nói – Cô không tóm được y ở đây đâu. Y gởi cô cai này. Y nhờ tôi nói với cô rằng y bảo không.

Lão chìa gói giấy ra. Nó được dán kín và không đề gì hết. Tuy nhiên lão thấy nàng cầm cái gói, bóc ra và trút giấy bạc xuống chăn mà chằng them ngó tới, chỉ nhìn bên trong cái gói, đoạn vò nát nó và vứt đi.

_Chỉ có tiền – nàng nói.

_Chứ cô mong gì? – lão nói – Cô biết y từ lâu, hay ít ra cũng thường gặp để có đứa con ấy, thế mà cô chưa hiểu rõ y sao?

_Không thường gặp – nàng đáp – cũng không lâu gì. Gặp nhau một tuần hồi mùa thu năm ngoái và đến tháng giêng anh ấy nhắn gọi cháu đi về miền tây, tới Mexico. Mới sống sáu tuần, ờ đó cháu nấu ăn cho anh và chăm sóc quần áo anh…

_Nhưng không có cưới hỏi – lão nói – Y không hứa điếu đó với cô. Đừng nói dối ta. Y không làm được.

_Anh ấy không làm được – nàng nói – Cháu biết điều cháu làm. Cháu biết từ đầu khi chúng cháu thỏa thuận. Sau đó lại thỏa thuận xong mọi điều trước khi rời Mexico Mới.Cháu đã tin anh ấy. Cháu phải tin. Không thể không tin. Tháng trước cháu biên thư gửi anh ấy cho chắc và thư hoàn lại không mở, còn cháu thì tin chắc. Ví thế cho tới tận tuần qua, cháu không biết có trở lại đây không. Hôm qua cháu đứng đợi bên đường thì xe qua và cháu tin chắc anh ấy có nhìn thấy cháu.

_Vậy cô cần gì? – lão hỏi – Cô cần gì?

_Vâng – nàng nói.

Lão nhìn nàng chằm chằm, mái tóc bạc của lão lệch qua bên, đôi mắt thiếu kính, mờ cả tròng đen nên trông như thiếu con người.

_Y gặp cô trên con đường vào một buổi chiều chỉ vì một thùng lương thực rơi khỏi thuyền. Và một tháng sau cô theo y cho tới khi có mang. Thế rồi y cầm mũ lên, nói lời từ biệt mà ra đi. Cô có họ hàng chứ?

_Có, cô cháu, ở Vicksburg. Cháu đến sống với cô hai năm trước khi cha cháu mất. Trước đó, Cháu sống ở Indianapolis. Nhưng cô cháu có một gia đình và phải nhận giặt thuê tại nhà. Do đó cháu kiếm việc dạy học ở Aluschaskuna.

_Nhận gì? Lão hỏi – Nhận giặt thuê tại nhà à?

Lão nhỗm dậy rồi ngã mình ra sau, tóc lệch qua bên, trợn mặt. Bây giờ thì lão hiểu nàng mang theo những gì, điều mà người bõ già da đen đã báo – đôi môi và làn da xanh xao nhợt nhạt dù không đau yếu ấy, đôi mắt bi thảm và tiên liệu ấy.

Mong sao một hai ngàn năm nữa không còn phân biệt ở Mỹ và quên điều này đi. Cầu chúa thương tình.

Với một giọng ngạc nhiên, đau xót pha lẫn bất bình, lão khẽ kêu lên:

_Cô là da đen!

_Vâng – nàng đáp.

_Vậy cô đến đây mong đợi gì chứ?

_Không mong đợi gì hết.

_Thế thì tại sao cô đến đây? Cô bảo cô chờ đợi ở Aluschaskuna hôm qua và y có trông thấy cô.

_Cháu đang định về miền bắc – nàng đáp. Hôm kia anh họ của cháu đưa cháu từ Vicksburg đến đây bằng thuyền. Anh sắp đưa cháu đến Leland để đáp xe lửa.

_Nên đi – lão nói.

Rồi lão lại khẽ kêu lên:

_Rời khỏi đây đi, ta không giúp được gì đâu! Không ai giúp gì cho cô được đâu!

Nàng quay ra cửa.

_Khoan đã – lão gọi.

Nàng trở lại. Lão nhặt thếp giấy bạc đặt lên tấm chăn phía cuối giường đoạn rút tay về, luồn vào chăn.

_Cầm đi!

_Cháu không cần – nàng nói – Mùa đông năm rồi anh ấy đã cho cháu tiền. Đủ rồi. Thu xếp hết khi chúng cháu thỏa thuận xong mọi điều.

_Cầm đi – lão cất giọng nhưng ghìm lại – Đem ra khỏi lều.

Nàng trở lại nhận tiền.

_Được rồi – lão nói – Nên trở về miền Bắc. Rồi cô lấy một người đồng chủng. Đó là cách độc nhất cứu mình. Lấy một anh da đen. Cô còn trẻ và trông chẳng khác gì người da trắng. Cô sẽ gặp một anh da đen, hắn sẽ thấy nơi cô những gì mà cô thấy nơi hắn, hắn không đòi hỏi gì ở cô, càng ít mong đợi hơn nữa nếu như cô chỉ cần trả thù. Và rồi chỉ một năm thôi cô sẽ quên tấ cả chuyện này; quên nó từng xảy ra, quên y từng có mặt trên đời.

Lão ngừng nói, trong phút chốc lão dường như bật dậy vì cảm thấy hình như dù không động đậy, nàng nổi cơn lôi đình khi nghe lão nói. Nhưng không. Nàng không cử động, nàng chỉ lặng lẽ đưa cái nhìn dưới chiếc mũ ướt đẫm xuống lão.

_Ông ơi – nàng nói – ông sống lâu thế nên quên hết những gì ông từng biết hay cảm thấy hay nghe kể về tình yêu rồi hay sao?

Và nàng bỏ đi, làn ánh sang luồng mưa dai dẳng im lìm hất vào lều, rồi nắp lều đậy lại.

Nằm trở xuống, lão run rẩy thở dốc, kéo chăn tận cằm và đôi bàn tay đan nhau trên ngực. Lão nghe động cơ nổ giòn, rú vang rồi nhỏ dần khi xa dần. Và chỉ còn lại trong lều sự im lặng và tiếng mưa rơi. Cả nỗi lạnh giá. Lão nằm trong cơn lạnh ấy, run rẩy khi ít khi nhiều, vẫn cương nghị đấy trừ có run thôi.

“Miền châu thổ này”, lão nghĩ “ Miền châu thổ này”. Giải đất mà con người đã khai khẩn, vỡ hoang và biến đổi trong hai thế hệ này để người da trắng làm chủ những đồn điền và đêm đêm đi về Memphis, để lại người da đen cũng có đồn điền, thành phố và cả nhà cửa ở Chicago. Giải đất mà người da trắng thuê làm nông trại và sống như người da đen còn người da đen thì cấy rẽ và sống như con vật. Giải đất mà bong vải cao bằng đầu người được trồng trọt và mọc tràn lên cả vỉa hè. Giải đất sinh ra tệ nạn cho vay, cầm cố cũng như sự phá sản lẫn giàu sang vô độ. Giải đất mà người Trung Hoa, người Châu Phi, Người Aryan và người Do Thái cùng sinh sản bên nhau cho tới khi không ai có dịp nói cái gì là cái gì, hay còn chú ý chi…

Chẳng còn lạ khi rừng cây ta quen thuộc bị tàn phá đến thế lại không đòi báo thù – lão nghĩ – Chính bọn người phá hoại sẽ hoàn tất cuộc trừng phạt của nó.

Nắp lều bật lên và khép lại ngay. Lão chỉ quay đầu ra nhìn. Legate đang cúi xuống giường của Boyd lục soát vội vã.

_Tìm gì đó? Mc Caslin hỏi.

_Tìm con dao mổ của Don – Legate nói – Chúng tôi đã hạ được một con hươu. Tôi về lấy ngựa.

Hắn đứng lên, tay cầm dao và bước ra cửa.

_Ai hạ thế? Mc Caslin hỏi – Don à?

_Vâng – Legate đáp, giở tấm cửa lều lên.

_Khoan đã – Mc Caslin nói – Chuyện gì thế?

Legate dừng lại phút chốc ở lối ra. Hắn không nhìn lại.

_Chỉ có con hươu thôi, bác Ike – hắn bực bội đáp – Chẳng có gì đặc biệt đâu.

Hắn bỏ đi, tấm cửa lều lại buông xuống, xua đi làn ánh sang mờ và luồng mưa dai dẳng muộn phiền.

Nằm xuống giường trở lại, Mc Caslin nói với túp lều cô tịch:

_Đó là một con hươu cái.

NHẬT CHIÊU dịch

About nhatchieu

- Nhà Văn Nhật Chiêu (04/03/1951): Giảng viên tại Đại học KHXH và NV Tp Hồ Chí Minh Việt Nam. - Lĩnh vực nghiên cứu: về văn học Nhật Bản và thế giới, đã viết nhiều sách và truyền cảm hứng về văn học cho rất nhiều thế hệ học trò - Tác phẩm đã in: Nhiều sách nghiên cứu văn học và tác phẩm văn chương
This entry was posted in VĂN HỌC DỊCH and tagged . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s