CÂU HỎI KHỦNG KHIẾP

Isaac Bashevis Singer – Nhà văn Israel – Nobel 1978

(Nhật Chiêu – Tạp chí Văn 03 – Tháng 02 1989)

Đêm Sabat trong nhà tôi luôn luôn có không khí hội hè, nhất là vào mùa đông. Lúc chiều tối cha tôi cùng với giáo đoàn của ông ngồi dự bữa ăn kết thúc lễ Sabát. Nhà không thắp đèn. Những người đàn ông hát bài “Các con trai trong nhà” và các bài ca vịnh trong bữa ăn khác. Họ ăn bánh mì chaleh cũ với miếng cá chép hay cá trích.

Suốt đởi cha tôi cố gắng trở thành một Rabbi (luật sĩ) của giáo phái Hasid và bây giờ ông đang giảng đạo cho các tín đồ. Tôi luôn luôn đứng sau chiếc ghế ông ngồi mà lắng nghe.

Cha tôi đả kích dữ dội những thú vui trần thế. Ông tán dương những niềm vui thánh thiện ở thiên đàng, ngồi ghế vàng với hoa đội đầu, mà nghe giảng bày những huyền bí của luật Tora.

Trong khi cha tôi nói, những vì sao hiện lên và cũng thường khi trăng mọc. Trong tâm hồn tôi, lời cha nói về linh hồn và “vòng gai vinh quang”luôn luôn gắn bó với lung linh sao trời, mặt trăng và các dáng dấp của mây. Những huyền bí của Tora với những huyền bí của thế giới, là một và không biết sao mà tôi chẳng bao giờ cảm nhận điều ấy rõ ràng và sâu sắc như trong ngày thứ bảy sau khi mặt trời lặn ngay trước lúc nến được thắp lên.

Trong căn phòng khác, mẹ tôi ngồi thì thầm đọc lời cầu nguyện “Chúa của Abraham”. Ngôi nhà lúc ấy thấm đầy linh hồn của Chúa, của Thánh thần, của bí ẩn và tràn trề một khát vọng lạ lung không sao tả được.

Cuối cùng ngày Sabát đáng yêu kết thúc và một tuần lễ mới bắt đầu. Các ngọn đèn bão được thắp, lời kinh chiều đọc lên, và ngọn nến đưa tiễn khách cháy sáng. Su khi cha tôi nâng rượu đọc lời nguyện, những người đàn ông nhúng ngón tay vào rượu và thoa lên mắt để làm phép cho một tuần lễ thịnh vượng.

Suốt mấy tháng mùa đông mẹ xuống bếp sửa soạn món yến mạch nóng. Cha trích đọc chương “Rồi Chúa sẽ ban cho ngươi phần mỡ của đất”, và cầu nguyện vị thánh nghèo bán tiên tri Elijah làm nô lệ với giá 800.000 đồng (guldens). Sau đó một ngọn lửa được nhóm lên trong chiếc lò gạch sưởi ấm phòng khách.

Những người đàn ông mặc quần áo ngày Sabát, uống trà pha chanh, và bàn bạc các vấn đề của giáo phái Hasid và các công việc thế gian. Nhà đầy mùi nến cháy, gia vị thiêng liêng, và kh6ong khí kì diệu phi thường. Cha tôi là người nghiện thuốc và ông lặng lẽ nhưng xao xuyến chờ suốt ngày Sabát cái giây phút mà ông có thể đốt lên một điếu thuốc hay ống điếu của mình.

Buổi tối Sabát đặc biệt hôm ấy, tuyết mới đang rơi và mặt đất bên ngoài dường như ánh lên vẻ sáng lạ lung. Những cây cọ phủ sương nở hoa trên các ô kính cửa sổ gợi tôi nhớ về xứ sở Israen.

Vào lúc mọi người đang đắm chìm trong linh hồn náo nức chờ mong ấy, với xiết bao ân phúc hứa hẹn, thì cánh cửa chợt mở và một người Do Thái nghèo bước vào.

Y không giống như một người nghèo khổ thông thường mà trông giống một người hành khất của truyện đời xưa. Chiếc áo dài đầy lỗ rách và mảnh vá, với bông và vải thô ló qua lần vải lót. Chiếc mũ thì tróc từng mảng. Hàm râu của y băng giá và dường như có những thỏi băng treo đầy. Người đàn 6ong đi vào và mang theo mình sự nghiệt ngã của đời thường và cái giá lạnh ngoài trời.

–       Chào tuần lễ tốt lành, thưa Rabbi.

–       Chào tuần lễ tốt lành với anh, và cả một năm tốt lành. Anh có chuyện gì cần nói?

Tôi mở to đôi mắt. Con người rách rưới này gợi tôi nhớ những câu truyện  về ba mươi sáu vị thánh nguyện sống một đời nghèo khốn bằng cách làm người xách nước, bửa củi và khất thực.

–       Thưa Rabbi, tôi muốn hỏi một câu hỏi.

–       Được, cứ hỏi đi.

–       Thưa Rabbi, người ta có được phép ngủ với người vợ đã chết của mình không?

Một im lặng kì lạ diễn ra. Tôi cảm thấy rùng mình. Mọi người tái mặt. Gương mặt cha tôi đông lại.

–       Tôi không rõ anh nói gì nữa – Cha tôi cuối cùng lầm bầm.

–       Thưa Rabbi, tôi không điên – Người đàn ông nói – Vợ tôi chết hôm thứ sáu. Tôi sống trong một căn hầm đầy chuột. Chủ nhật mới làm đám tang. Tôi không thể để xác trên sàn vì Chúa ơi, chuột sẽ cắn xé tan tành. Tôi chỉ có một chiếc giường duy nhất. Phải đặt vợ tôi lên đó. Và tôi, thưa Rabbi, cũng không thể ngủ trên sàn. Chuột cũng sẽ cắn xé tôi. Tôi đã ngồi thức suốt một đêm rồi, nhưng đã cạn sức. Cho nên tôi muốn biết, thưa Rabbi, tôi có thể nằm cùng giường với xác vợ tôi không?

Khi người đàn ông thốt ra những lời cuối cùng ấy, tôi thấy gương mặt cha tôi khác hẳn, xưa nay tôi chưa bao giờ thấy ông như thế. Đầy nước mắt. Có một sự trào vọt, và cả khuôn mặt đầm đìa – nước mắt, gò má, hàm râu đỏ hung. Xúc động lan khắp mọi người. Có tiếng la trời. Có tiếng kéo lê giày và gõ ngón tay lên bàn. Cha tôi lấy chiếc khăn tay lớn ra lau mặt và hỉ mũi. Bằng giọng khan khan, ông nói:

–       Các ông có nghe không? Khốn, khốn.

–       Chúa tha tội, Chúa tha tội chúng con – một tín đồ nói.

–       Chưa từng nghe thấy, chưa từng nghe thấy – người khác nói.

–       Được, thế sao lại im lặng? Phải làm điều gì chứ?

Những người đàn ông mặc áo dài satin ngày Sabát không có đem theo tiền. Nhưng họ đều ở quanh đây nên chạy về nhà lấy tiền. Cha tôi tìm chiếc hộp thiếc đựng tiền của mình, lấy ran gay nhiều tờ giấy bạc.

Mẹ tôi nghe ồn, từ bếp vội đi lên xem có chuyện gì. Bà tái mặt, đỏ mặt, rồi lại tái đi. Cứ mỗi khi kinh động như thế này, bộ tóc giả của mẹ lại xổ tung sống động, các món tóc (làm bằng lụa chứ không phải tóc người) xõa xuống vầng trán và đôi má của bà, một kẹp tóc bung ra, búi tóc buông lỏng.

Mẹ trở vào bếp lấy thức ăn cho người đàn ông nghèo khốn, và đem lên trà, bánh qui, và các món thịt hầm nậm còn dư. Người đàn ông nghèo đến bên thùng nước rửa tay.

Một thanh niên trở lại nhà tôi báo tin rằng anh ta đã kiếm được một chiếc giường nhỏ tạm thời cho người đàn ông. Các bà lối xóm qua nhà tôi, bóp vặn đôi bàn tay và rảo quanh các người đàn ông.

Ai đó bảo:

–       Phải đến nơi xem.

Cha tôi kh6ong thể bước vào phòng đặt thi hài, bởi vì ông thuộc dòng dõi giáo sĩ. Nhưng các người Do thái khác đều vào được.

Trong khi người đàn ông nghèo đang ăn uống cho lại sức, thì các thứ quyên góp từ mọi phía đổ xuống. Người ta mang tới một áo khoát độn, một áo sơ mi, một cặp vớ, một mũ long. Họ tuôn xuống cho con người khốn khổ ấy cả một tủ áo quần.

Sauk hi ăn uống và đọc lời cầu nguyện thích đáng, y được cả một đoàn người đưa về nhà, một người mang giường và các người khác mang thức ăn.

Tôi không được phép đi theo bởi vì tôi cũng thuộc dòng dõi giáo sĩ. Vả lại, tôi vốn sợ những chuyện như thế này từ lúc còn rất bé. Thế mà lòng hiếu kì của tôi còn mạnh hơn cả nỗi sợ hãi. Người đàn ông ấy sống ở đường Krochmalna và khi chúng tôi bước vào trong sân, hầu hết mọi người ở lại bên ngoài. Các người khác lần bước xuống cầu thang tối tăm và bẩn thỉu. Tôi nhìn lướt qua cửa sổ căn hầm và thấy một cảnh tượng kì quái. Đây không phải là một căn hầm bình thường mà chính là một hang động, một cái lổ dưới đất vách đen như lòng ống khói. Hai ánh đèn mù mờ rập rờn trong bóng tối, và trên giường là một hình người liệm khăn. Tôi không nhìn thấy rõ ràng vì ô kính cửa sổ mờ sương giá, chỉ có một điểm sáng trong ở giữa đã tan băng bởi hơi thở ấm nồng của các người tò mò.

Người đàn ông ấy sống dưới đất. Ở đó, trong bóng tối, trong giá lạnh và rác rưởi, y sống một cuộc đời cùng khốn với vợ, chiến đấu chống lại bọn thú bò đầy nhà tấn công thân xác và bánh mì của y. Và bây giờ bọn thú ác nghiệt này đe dọa xé nát thi thể của kẻ đọa đày.

Tôi phân vân giữa hai xúc động trái nghịch. Sự sợ hãi xui tôi quay mắt nhìn hướng khác, những nỗi hiếu kì đòi hỏi tôi nhìn ngó tiếp. Tôi biết rằng mình sẽ phải trả giá cho mỗi cái nhìn bằng ác mộng và kinh hoàng, nhưng cứ từng lúc tôi chồm tới trước nhìn ngó cái nấm mồ sống ấy.

Ánh lửa lập lòa phía dưới chỉ làm tăng cường bóng tối mà thôi. Dường như tôi có thể nhìn thấy mọi thứ tà ma quỉ quái đang tung hoành ở nơi chốn không lời diễn tả này. Chúng muôn hình vạn trạng gớm ghê. Lẽ nào người ta có thể sống trong một vực thẳm thế này? Lẽ nào người ta giam mình  trong một nơi nhớp nhúa thề này mà còn giữ được tâm hồn lành mạnh? Tôi bỗng nhiên cảm thấy choáng đầu và lạnh giá sống lưng. Hay là kẻ sống ở đây chính là một hồn ma đấy?

Dưới hầm các người đàn ông và đàn bà đều bận rộn và ai đó đang di động các ngọn nến. Hình như người ta đang khiêng vật gì đó. Tôi muốn quay mình bỏ chạy, nhưng hiện giờ tôi không thể đi về nhà một mình. Tôi sợ bởi vì các bậc thang lên tầng nhà tôi khi thì không thắp đèn, khi thì chỉ được soi chiếu bằng một đèn đầy khói không có ống khói lẫn chao đèn. Một người đàn ông bằng lòng trở về nhà với tôi. Tôi run lẩy bẩy và răng đánh vào nhau lập cập. Có gì đó trong tôi kêu nấc lên và hỏi “Làm sao mà Chúa lại cho phép điều ấy xảy ra?”.

Khi tôi được đưa vào nhà, mẹ tôi bóp vặn đôi bàn tay và kêu lên:

–       Khốn chưa! Nhìn thằng bé kìa!

Mọi người sưởi ấm và hà hơi lên tôi. Mẹ tôi niệm thần chú. Tôi được cho trà, mức, và mọi thứ kẹo trong nhà. Cha tôi đi qua đi lại trong thư phòng. Ông nhai râu của mình và xoa bóp trán. Ông vốn là người thành kính, nhưng chuyện vừa rồi đã khiến ông hoài nghi.

“Cha thân yêu trên trời… Khốn khổ!” Ông kêu lên. “Đã đến lúc cứu chuộc… đến lúc… đúng lúc rồi”

Đêm Sabát của chúng tôi thế là hỏng và tuần lễ sau đó sống đạm bạc vì cha tôi đã dành tiền chợ hàng tuần của mẹ cho người đàn ông nghèo khốn.

Sau đó tôi nghe nói rằng một người Do thái mà chỉ có một giường trong nhà thì thật kì lạ. Nông dân thì có thể, nhưng chẳng ai nghe chuyện đó ở người Do thái cho dù bần cùng nhất.

Nhưng ai biết, có thể y có một chiếc giường thứ hai nhưng đã nát? Có thể y đã dùng nó chụm củi? Sự nghèo khó thường gặp ở những thành phố lớn lại hiếm có ở các thị trấn nhỏ.

Một thời gian dài sau đó trong nhà tôi vẫn còn nói chuyện về sự tình bi thảm ấy và cả một thời kì dài nối tiếp tôi đau buồn vì những cơn ác mộng.

Sau này tôi thường gặp người đàn ông ấy, khi y đi buôn và hòa lẫn với đám đông. Nhưng tôi luôn luôn sợ y. Lúc nào tôi cũng nhớ lần y đến nhà vào tối hôm Sabát, cùng câu hỏi khủng khiếp của y.

Nhật Chiêu dịch.

About nhatchieu

- Nhà Văn Nhật Chiêu (04/03/1951): Giảng viên tại Đại học KHXH và NV Tp Hồ Chí Minh Việt Nam. - Lĩnh vực nghiên cứu: về văn học Nhật Bản và thế giới, đã viết nhiều sách và truyền cảm hứng về văn học cho rất nhiều thế hệ học trò - Tác phẩm đã in: Nhiều sách nghiên cứu văn học và tác phẩm văn chương
This entry was posted in VĂN HỌC DỊCH and tagged . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s