GIẤC MƠ CỦA BƯỚM

TRANG TỬ VÀ BORGES

“Văn chương của họ giống như những cánh bướm, thoát ẩn thoát hiện. Tôi thích mang những lời của Trang Tử và Borges bên mình khi lang thang trong một sớm mai đầy nắng, cùng đọc họ trong một lúc, trộn lẫn những trang cô xưa và những trang hậu hiện đại, trộn lẫn “Nam Hoa kinh” và “Ficciones” (Hư ảo), hai cuộc phiêu lãng văn chương kỳ thú nhất. Nghĩa là nghe họ kể chuyện, chơi đùa và mộng…”

Giữa Trang Tử ở Trung Quốc và Borges ở Argentina là hai mươi ba thế kỷ.

Trang Tử sinh vào khoảng năm 369 trước Tây lịch. Borges sinh năm 1899.

Bút pháp biến ảo của Nam Hoa kinh đã đưa Trang Tử vào ngôi vị đệ nhất tài tử trong văn học sử Trung Quốc.

Bút pháp kỳ ảo của Jorge Luis Borges đưa tác giả vào ngôi vị nhà tiên tri của văn học Mỹ Latin.

Văn chương của họ giống như những cánh bướm, thoắt ẩn thoắt hiện. Tôi thích mang những lời của Trang Tử và Borges bên mình khi lang thang trong một sớm mai đầy nắng, cùng đọc họ một lúc, trộn lẫn những trang cô xưa và những trang hậu hiện đại, trộn lẫn “Nam Hoa kinh” và “Ficciones” (Hư ảo), hai cuộc phiêu lãng văn chương kỳ thú nhất. Nghĩa là nghe họ kể chuyện, chơi đùa và mộng.

Mộng, đó là cuộc chơi lớn nhất của con người. Những kỳ thư tuyệt tác của phương Đông đều kể về mộng.

Như Hồng lâu mộng ở Trung Quốc; Mộng phù kiều (chương cuối truyện Genji) ở Nhật Bản; Cửu vân mộng ở Triều Tiên; Truyện Kiều ở Việt Nam; Yogavasistha ở Ấn Độ (với 55 truyện kể về mộng).

Nói về mộng trong những kiệt tác ấy lại là một câu chuyện khác (mà tôi đã có dịp trình bày trong một bài nói chuyện về mộng).

Bước vào Nam Hoa Kinh là nghe Trang Tử nói về mộng. Đó là về cánh bướm, về đầu lâu, chim bằng, cái bóng, ốc sên…

Bước vào Ficciones là theo Borges dấn mình vào mê cung của mộng. Đó là phế tích vòng tròn, phượng hoàng, tháp Babel, hiệp sĩ Don Quixote…

Mộng, đó cũng chính là bản thân Trang Tử, bản thân Borges, bản thân bất kỳ ai.

Trang Tử và Borges là hiền triết. Nhưng họ không triết lý. Sự hiền minh của họ bay giữa những câu chuyện đùa, những cuộc chơi và mộng.

Trong cuốn sách trác tuyệt về Trang Chu mang tên Cánh bướm làm bạn (The butterfly as compainion), giáo sư Ngô Quang Minh nói với người đọc Trang:

“Dù sao đi nữa, bạn ơi, xem như bạn hạnh phúc rồi. Bạn có thể hân hoan mà baytheo cánh bướm, phất phới giữa cơn mơ và thực mà không cần phải chối bỏ cảnh giới nào. Bạn sẽ phất phới cùng cánh bướm kia bay giữa Trung Hoa cổ đại và phương Tây hiện đại, bạn sẽ sống tràn đầy và say mê” (1)

Và trong bản Anh dịch Ficciones (Hư ảo), John Sturrock tóm gọn linh hồn tác phẩm của Borges

Như thế này:

Ông dấn mình vào cuộc chơi đùa hơn là triết lý cùng ta” (2)

Chơi đùa, ấy là phất phới giữa mơ và thực, là biết tự cười mình, tự giễu nhại mình. Ai trong hàng ngũ triết gia tự đặt ra ngụ ngôn để tự đùa cợt mình như Trang Tử?

Trang Chu không thích trang nghiêm, trịnh trọng.

Hãy đọc kỹ lại ngụ ngôn lừng danh về bướm của ông, một bài thơ kỳ tuyệt:

Tích giả

Trang Chu mộng vi hồ điệp

Hủ hủ nhiên hồ điệp dã

Tự dụ thích chí dư

Bất tri Chu dã

Nga nhiên giác

Tắc cừ cừ nhiên Chu dã

Bất tri Chu chi mộng vi hồ điệp dư

Hồ điệp chi mộng vi Chu dư

Chu dữ hồ điệp tắc tất hữu phận hĩ

Thử chi vị vật hóa.

(Tề vật luận)

Xin được dịch lại như sau:

Có một lần kia

Trang Chu mộng thấy mình là bướm

Thế là phất phới bay, bướm mà

Tự mình thích chí lắm!

Không còn bết gì Chu

Bỗng nhiên rồi thức giấc

Hì lạ lung chưa, lại là Chu

Không biết giấc mơ Chu đã làm ra bướm

Hay giấc mơ bướm đã làm ra Chu?

Chu và bướm ắt phải khác phận

Đấy gọi là vật hóa (3)

Bài thơ này có đến hai giấc mộng:

Trang Chu -> Bướm -> Trang Chu

Bướm -> Trang Chu -> Bướm

Và một cái tự cười lạ thường:

Ngay cả khi tỉnh mộng, Trang Tử cũng không rõ mình là Trang Chu hay Bướm.

Nhưng giấc mơ ấy chỉ là một biểu tượng. Chu và bướm tuy khác phận, ta và vật tuy khác phận nhưng làm gì có cái khác tuyệt đối. Hãy nhìn cánh bướm đang bay – có Trang Chu trong đó.

Trang Chu hóa làm bướm trong mộng. Ai biết đâu tiền thân Trang Chu hay hậu thân Trang Chu không phải là bướm?

Một buổi sáng khi vừa thức dậy, Trang Chu bỗng thấy mình hóa thành một con bướm. Đó có thể là một câu chuyện kể theo lối Kafka. Đâu là mộng và đâu là thực?

Đâu không có hiện tượng vật hóa, hiện tượng biến đổi của sự vật (“things changing” theo cách dịch của Ngô Quang Minh và “the transformation of things” theo Phùng Hữu Lan).

Bình chú cuối chương Tề vật luận, Phùng Hữu Lan cho rằng:

“Vật hóa minh xác rằng sự khác biệt giữa những sự vật không phải là tuyệt đối” (4)

Và cũng có thể hiểu rằng vật hóa nói lên bản chất mộng ảo của sự vật; bản chất mà Shakespeare đã nêu lên trong vở Bão tố (The Tempest):

Ta và giấc mộng

Làm bằng chất liệu như nhau

Và cuộc đời ta nhỏ bé

Hoàn tất bằng một giấc ngủ thôi

(We are such stuff

As dream are made on,

And our little life

Is rounded with a sleep).

Vậy thì Trang Tử, giấc mơ và con bướm được làm bằng chất liệu như nhau. Đấy chính là Tề vật luận vậy.

Chất liệu ảo mộng ấy thể hiện trong truyện Phế tích vòng tròn của Borges ở tập Ficciones như sau:

Có thể phế tích vòng tròn vốn xưa là một ngôi đền bị lửa hủy hoại, giờ đây hầu như chon lấp trong rừng. Một người lạ từ phương Nam đến và “ông biết rằng bổn phận cấp thiết của ông là mộng”.

Ông muốn mơ ra một đứa con trai. Hàng đêm ông mơ và từ từ tạo nên một đứa con trai trưởng thành từ chất liệu của mộng ảo.

Cuối cùng, đứa con trai cũng thành hình. Ông hôn nó lần đầu và bảo nó đi đến một ngôi đền khác cách nhiều dặm trường rừng. Sợ nó biết rằng nó chỉ là ảo ảnh, ông đã hủy đi ký ức về việc thành người của nó.

Đứa con trai đi đến gno6i đền phương Bắc, chẳng bao lâu được biết như là người có phép lạ, đi vào lửa mà kh6ong cháy. Tin tức này làm cho ông, người phù thủy già, lo âu. Chỉ có Lửa là kẻ độc nhất biết ảo ảnh – Lửa kh6ong thể thiêu cháy được ảo ảnh. Đứa con trai sẽ ra sao nếu như nó biết được mình chẳng qua chỉ là mảnh vụn phóng chiếu từ giấc mơ của người khác.

Sau đó, một trận hạn hán dài đã gây nên cháy rừng và lửa tấn công nốt vào phế tích vòng tròn.

Người phù thủy già định chạy xuống nước. Nhưng rồi ông quyết định chấp nhận cái chết, đi thẳng vào lửa. Nhưng sao lửa không thiêu cháy da thịt ông mà chỉ nhẹ nhàng mơn trớn?

Và câu chuyện kết thúc: “Với cảm giác lắng dịu, với nhục nhã, và cả kinh hoàng, ông hiểu rằng ông cũng chỉ là một ảo ảnh mà ai khác đã mơ ra” (5)

Trang Chu tự hỏi: “Hồ điệp chi mộng vi Chu dư?” (Giấc mơ của bướm đã làm ra Trang Chu ư?).

Người phù thủy già cũng gần như tự hỏi: Giấc mơ của ai khác đã làm ra ta?

Nhưng Borges viết: “ông hiểu rằng ông cũng chỉ là một ảo ảnh”. Vậy thì chỉ có ảo ảnh. Vị trí của người phù thủy là vị trí của cái ảo, của giấc mơ.

Trong khi đó, Trang Chu nói: “Bất tri” (Không biết giấc mơ Chu đã làm ra bướm…). Vậy thì vị trí của Trang Chu hay con bướm là không hẳn ảo cũng không hẳn thực mà là phất phới giữa ảo và thực.

Có nghĩa là Trang Tử không chấp  vào một bên ảo hay một bên thực. Ông chơi đùa với cả giấc mơ và hiện thực. Chính vì thế mà Ngô Quang Minh nói rằng Trang Tử có “vị trí của không vị trí”

(a position of no position).

“Như vậy, vị trí của Trang Tử là một vị trí của không vị trí, vượt qua vị trí những người khác bằng cách tiêu dao nhàn tản giữa họ” (6)

Trong đoản văn Borges và tôi, Borges cũng nói đến cái không biết, cái bất tri, cái vị trí của không vị trí, tất nhiên là theo phong cách của riêng ông; và đó cũng là trò chơi, là tư cười:

Về Borges, tôi nhận ra các tin tức từ bưu điện và tôi nhìn thấy mặt ông trong một bộ ba các bậc thầy hay trong một cuốn từ điển danh nhân. Tôi thích thú những chiếc đồng hồ cát, các tấm bản đồ, việc in typo thế kỷ XVIII, môn từ nguyên học, vị cà phê và văn xuôi Stevenson; Kẻ kia cùng chia sẻ những sở thích đó nhưng bằng một phương thức ồn ào mà biế chúng thành những phẩm chất của nghệ sĩ. Sẽ là cường điệu việc khẳng định quan hệ chúng tôi là thù nghịch; tôi sống và tôi để mình sống để Borges có thể dệt nên văn chương của mình và văn chương ấy sẽ phán xử tôi… Nhưng tôi nhận ra mình trong những cuốn sách của ông ít hơn so với những sách khác hoặc trong tiếng gảy trau chuốt của một cây guitar. Từ mấy năm nay, tôi muốn tự giải thoát khỏi ông và tôi đã đi từ những huyền thoại đến những trò chơi bằng thời gian và bằng điều vô tận, nhưng những trò chơi ấy đều là của Borrges bây giờ. Và tôi cần phải nghĩ ra các trò chơi khác. Như thế, cuộc đời tôi là một cuộc chạy trốn và tôi đã mất tất cả và tất cả là của sự lãng quên hoặc của kẻ khác.

Tôi không biết ai trong số hai người viết trang này” (7)

Chừng như tác giả mỉa mai: Borges đang viết hay là cái tôi đằng sau Borges đang viết.

Thương tự như thế, có thể hỏi: Trang Tử đang kể chuyện hay cái đang mơ của Trang Tử đang kể?

Borges rất quan tâm đến câu chuyện giấc mơ về bướm của Trang Chu. Trong tiểu luận sắc sảo Sự phản chứng mới của thời gian, Borges ca ngợi mỗi khoảnh khắc hiện tiền mà ta sống và mơ mộng. Khoảnh khắc mà ông chọn để dẫn chứng là giấc mộng Trang Chu:

“Tôi phủ nhận sự tồn tại của chỉ một thời gian, thứ thời gian trong đó tất cả mọi sự kiện đều được sắp xếp theo thứ tự… trong một số lớn các trường hợp, tôi phủ nhận cái nối tiếp; trong một số lớn các trường hợp, tôi phủ nhận cái đồng thời” (8)

Borges muốn nói rằng không có không gian tuyệt đối cũng như không có thời gian tuyệt đối. Không có cái tuyệt đối, trong trò chơi của vũ trụ. Cũng như đối với Trang Chu, vũ trụ là trò chơi vật hóa.

Borges tiếp tục: “Mỗi khoảnh khắc mà chúng ta sống là tồn tại thực sự, chứ không phải là tập hợp tưởng tượng của nó… thời gian cũng sẽ không tồn tại ở bên ngoài mỗi khoảnh khắc hiện tại. Chúng ta hãy chọn một khoảnh khắc đơn giản nhất. Ví dụ, khoảnh khắc của giấc mơ Trang Chu… Trang Chu mơ thấy mình là một con bướm. Nếu không gian và cái tôi đã bị xóa bỏ thì làm sao chúng ta có thể gắn liền những khoảnh khắc ấy với khoảnh khắc của việc tỉnh dậy với thời đại Trung Hoa” (9)

Sự khác biệt của sự vật, sự khác biệt của những khoảnh khắc không phải là tuyệt đối. Dù vậy, Trang Chu vẫn là Trang Chu, bướm vẫn là bướm. Không có tuyệt đối nối tiếp, cũng kh6ong có tuyệt đối đồng thời.

Đó là chỗ Borges gặp Trang Chu trong tinh thần Tề vật luận.

Cũng tinh thần hữu thời (Uji) của thiền sư Dogen (Đạo Nguyên) ở NHật Bản thế kỷ mười ba. Thiền sư nói:

“Bởi vì đi qua là một phẩm tính của thời gian, thời gian quá khứ và hiện tại không chất đống, không tập hợp theo một dãy – tuy nhiên Thanh Nguyên là thời gian, Bích Trượng cũng là thời gian, Mã Tổ và Thạch Đầu cũng là thời gian. Bởi vì mình và người khác là thời gian, tu hành và chứng ngộ là thời gian. Đi vào trong bùn, đi vào trong nước cũng là thời gian” (10)

Trang Chu đi vào trong mộng, hóa bướm. Đó là khoảnh khắc của riêng ông nhưng đồng thời, cũng chạm vào khoảnh khắc mộng ảo của chúng ta. Chính vì thế mà Bashô mới nhập vào hồn bướm của Trang Chu trong bài haiku kỳ ảo:

Em là bướm ư

Ta là giấc mộng

Trong hồn Trang Chu

(Kimi ya chô

Ware ya sô shiga

Yume gokoro).

 Borges mới dẫn dắt chúng ta lang thang qua mê cung của những giấc mộng.

Vật hóa là ảo hóa (Maya).

Khi nói rằng bản chất của thế gian là mộng ảo, điều đó không có nghĩa là không có thế gian. Hình ảnh cánh bướm của Trang Tử bay lượn giữa hai bờ mơ – thực cho thấy rằng vũ trụ là một trò chơi (Lila).

Thế cho nên, Trang Tử và Borges tha hồ chơi đùa với không gian và thời gian.

Chơi đùa và làm bạn với cánh bướm lãng du của những khoảnh khắc mộng ảo, vô thường.

CHÚ THÍCH:

(1)   Kuang-ming wu, The Butterfly as Companion, State University Of New York Press, 1990, trang 5: “in any case, dear reader, count youself fortunate. You can enjoy and follow a butterfly fluttering back and forth between dream and reality without denying eithei. You will flutter with it between ancient China and the modern West. You will live vigorously and zestfully”.

(2)   Jorge Luis Borges, Ficciones, Lời giới thiệu của John Sturrock, Everyman’s Library, New York, 1993, trang xxiv: “he was committed to play rather than to philosophy…”

(3)   Dựa vào bản chữa Hán và Anh dịch trong sách đã dẫn chú 1

(4)   Fung Yu – lan, A Taoist classic Chuang-Tzu, Foreign Languages Press Beijing, 1989, trang 55: “The transformation of things” proves that the differences among things are not absolute”.

(5)   Bản Anh dịch: “The Circular ruins” trong tập Ficciones, sách đã dẫn ở chú 2, trang 44: “with rellef, with humiliation, with terror, he understood that he also was an illusion, that someone else was dreaming him”.

(6)   Sách đã dẫn ơ chú 1, trang 7.

(7)   Jorge Louis Borges tuyển tập, Nguyễn Trung Đức tuyển dịch, NXB Đà Nẵng, 2001, trang 300 và 301.

(8)   Và (9) Nguyễn Trung Đức dịch, sách đã dẫn ở chú 7, trang 468, 469, 479 và 481.

(9)   Thiền sư Đạo Nguyên, Chánh pháp nhãn tạng (Shôbôgenzô), Nguyễn An Cư dịch, Thiện Tri Thức, 2003, trang 157.

Nguyệt san Giác Ngộ số 99 – tháng 6.2004 (Trang 68 – 75)

About nhatchieu

- Nhà Văn Nhật Chiêu (04/03/1951): Giảng viên tại Đại học KHXH và NV Tp Hồ Chí Minh Việt Nam. - Lĩnh vực nghiên cứu: về văn học Nhật Bản và thế giới, đã viết nhiều sách và truyền cảm hứng về văn học cho rất nhiều thế hệ học trò - Tác phẩm đã in: Nhiều sách nghiên cứu văn học và tác phẩm văn chương
This entry was posted in BÌNH LUẬN VĂN HỌC and tagged . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s