Honore de Balzac

Ai là người đã kể tất cả những câu chuyện trong Nghìn Lẻ Một Đêm?, để cứu lấy bản thân và đời sống. Một nàng Scheherazade huyền hoặc ư? Chẳng lẽ một mình nàng đã tạo ra những Aladin, Alibaba, Thủy thủ Sinbad… và cả một thế giới kỳ ảo mà rất thực ấy? Nhưng đấy là chuyện đời xưa. Và nàng Scheherazade, nói cho cùng, chỉ là một biểu tượng cho trí tưởng tượng huy hoàng của một con người. Là chỉ là cái tên của cõi mộng mơ bất tuyệt.

Thế mà, ở vào thế kỷ mười chin, thế kỷ của đời thường, cũng có bộ Nghìn Lẻ Một Đêm của nó. Và “người kể” cũng chứa trong mình cả một thế giới “mang trong đầu cả một xã hội” (như lời người ấy nói: Mọi j’aurai porte une societe tout entiere dans ma tete).

Một mình người ấy, chỉ một mình thôi, đã tạo ra hai nghìn nhân vật, trong đó có Raphael, Gotiot, Grander, Hulot, Bette, Rastignac, Rubempre, Vautrin, Gobseck… Cả một thế giới hiện thực lọc qua một trí tưởng tượng tuyệt vời.

Và người kể những câu chuyện ấy không phải là một hình bóng huyền thoại nào đâu. “Nàng Scheherazade mới” này có tham vọng kể lại toàn bộ tấn “Hài kịch nhân loại”.

Chính Balzac, con người có tham vọng ấy, đã so sánh công trình của mình với bộ “Nghìn Lẻ Một Đêm”. Trong thư gửi bà Eve Hanska năm 1834, Balzac đầy tự tin cho rằng đó là “một tác phẩm sẽ giống như bộ Nghìn Lẻ Một Đêm của phương Tây”.

Có thể nói Balzac sáng tạo một thế giới. “Bộ hài kịch nhân loại, đấy là sự bắt chước Chúa”. (La Comedie humaine, c’est l’Imitation de Dieu le Pere) theo lời của Albert Thibaudet.

Những nhân vật của Balzac đã rời trang sách mà sống giữa thế giới con người. Ông ‘thêm vào” cho thế giới quá nhiều thì việc ông bắt thế giới cho ông một chữ “de” quý phái vào tên mình (Honoze de Balzac) chỉ là một việc quá đỗi cỏn con. Mà tại sao không? Dù ông thuộc dòng dõi Balzac nông dân, ông không chỉ chen chân vào xã hội trên cao, ông còn bắt nó chen chân đi đứng dưới ngòi bút của mình, và đó mới thật là điều quan trọng.

Để tạo ra hai nghìn người, Chúa đã mất bao lâu? Balzac mất chưa tới hai mươi năm.

“Hài Kịch Nhân Loại”, chưa được dựng xong như ý muốn của Balzac nhưng cũng đủ là một “Tấn trò đời”. Cũng đủ làm Chúa phát ghen nếu Chúa cao hứng muốn sáng tạo lần nữa.

Thực ra, Balzac có tham vọng tạo dựng “từ ba đến bốn nghìn nhân vật”. Nhưng rồi, “chỉ” có hai nghìn được sinh thành. Nhiều tiểu thuyết hoài thai trong tâm trí Balzc, theo như danh sách công bố năm 1845, lẽ ra đã chào đời nếu như cái chết kh6ong đến với ông quá sớm. Một trăm bốn mươi bốn tên sách đã được đặt cho những đứa con tinh thần. Thế mà trong đó, gần năm mươi tên sách mãi mãi chỉ là những cái tên khiến cho một Stefan Zweig phải ngậm ngùi tiếc rẻ:

“Hôm nay, đọc danh sách ấy, ta cảm thấy một nỗi buồn tựa như khi ta xem xét bản danh sách những vở kịch thất lạc của Sophoneeles hay những bức họa mà ta không còn được nhìn ngắm của Leonardo da Vinci”.

Thời Trung cổ, Thi hào Dance muốn đưa người đọc vào một ảo ảnh, hay một tự truyện ảo hóa của cuộc đời mình, ông gọi đó là một Hài kịch (Commedia). Hai trăm năm sau, người ta gọi kiệt tác của ông là “Hài Kịch Thần Linh” (Divina Commedia)

Là con người của thế kỷ mười chin, Balzac muốn kéo ta trở lại thực tại và gọi thế giới đó là Hài Kịch Nhân Loại (La Comedie Humanine).

Balzac đã thực sự kéo ta trở lại với nghìn lẻ một… ngày trong cuộc đời thường. Ông thi đua với truyện đời xưa của Ả rập, Ba Tư bằng những tác phẩm hiện thực nhất của xã hội đời nay. Trong cuộc thi đua ấy, Balzac trở thành bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực.

Hiện thực ở Balzac là một hiện thực được xăm xoi đến tận cùng ngõ ngách, tận cùng ẩn ức của đời người (từng đồng xu, thìa đường, hóa đơn, vết bùn, lý lịch…) Nhưng lạ thay đó cũng là một hiện thực không kém phần huyền ảo, như Paris được miêu lả qua những vòng địa ngục, một Paris cần có Dante của nó.

Ấy là vì trong khi bám sát hiện thực, Balzac biết bóc trần nó ra để đi vào bản chất của nó. Ông muốn bắt hiện thực tự phô bày mình chứ không giấu mình dưới những nếp áo quí tộc xa hoa, dưới những long chân tư sản…

“Hài Kịch Nhân Loại” mở rộng những trang sách ra, gần như ôm trọn toàn thể xã hội. Thể loại của nó, nếu gọi chính xác, phải gọi là sử thi. Và là sử thi của một thực tại phi-anh hùng.

Theo Hegel “trạng thái xã hội” (Weltzustand) có ảnh hưởng lớn lao đến văn chương nghệ thuật. Nghệ thuật cổ điển sinh ra từ một trạng thái thế giới anh hùng. Còn trong các thế kỷ sau này, thời đại anh hùng nhường cho một trạng thái thế giới dung tục.

Theo quan điểm mỹ học Mac – Lenin, trạng thái thế giới dung tục ấy phù hợp với xã hội tư sản, trong đó cá thể không còn hòa hợp với thế giớ như vào thời đại anh hùng nữa.

Và trạng thái thế giới dung tục đã được Balzac miêu tả  bằng tất cả sức mạnh hoành tráng của một ngòi bút sử thi.

Nhưng tại sao Balzac gọi tác phẩm của mình là một “hài kịch”? Phải chăng ông muốn nhấn mạnh đến tính lố bịch trong cái xã hội mà ông miêu tả:

“Đám tư sản ba hoa, tôn giáo chết mục, chính quyền thoái hóa, vua kh6ong ngai vàng – Balzac hỏi – có thi vị gì kia chứ… Giờ thì ta chỉ còn có thể chế nhạo mà thôi”.

Để làm được điều đó, Balzac đã dùng một thi pháp đặc biệt là kiến tạo một cấu trúc xã hội học cho toàn thể tác phẩm của mình trong khi ở Dante lại là một cấu trúc thần học.

Trong lời giới thiệu cho bộ “Hài Kịch Nhân Loại”, Balzac có tuyên bố rằng ý tưởng tôn giáo đối với ông là “yếu tố vĩ đại nhất của trật tự xã hội” và ai cũng thấy rằng lời tuyên bố ấy chẳng ăn nhằm gì đến công trình của ông. Chính cái thế giới hình tượng trong “Hài Kịch Nhân Loại” mới Thật là tâm huyết, còn lời tuyên bố mào đầu ấy thật đáng nghi ngờ.

Ở Dante cũng như ở Balzac, cấu trúc tác phẩm của họ là điều ta phải quan tâm đặc biệt. Nếu không, chưa thể gọi là đã thực sự đọc họ.

Nếu chỉ đọc một ca khúc (canto) trong một trăm ca khúc của “Divina Commedia” mà quên cấu trúc thần học của Dante thì thật khó lòng cảm thụ được thi hào Ý này. Thậm chí cần nhớ cả con số 3 huyền bí của ông (Thượng đế ba ngôi, vũ trụ có ba cõi được trình bày trong tác phẩm chia làm ba quyển: mỗi quyển có ba mươi ba khúc, mỗi khổ thơ gồm ba câu; ba con thú chặn đường; ba người hướng dẫn…) Đây không chỉ là vấn đề hình thức. Vì cấu trúc đặc biệt ấy mang ý nghĩa thần học.

Cũng vậy, nếu chỉ đọc một tác phẩm trong gần một trăm tác phẩm của “La Comedia Humaine” mà quên cấu trúc xã hội học của nó thì e rằng rất dễ đánh gái sai lạc Balzac. Nhiều người đem một tác phẩm nào đó của Balzac ra mà xét nét rồi kết luận rằng nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết của ông rất yếu. Đó là nhầm lẫn.

Mỗi “canto” của Dante hay mỗi tác phẩm của Balzac đều chỉ là tế bào, chưa phải là cơ thể. Mà cơ thể ấy thì hung vỹ như đền đài, như đại ngàn. Không thể chỉ thấy cây mà quên rừng.

Balzac không miêu tả mỗi cá thể như là cá thể. Ông muốn diễn tả các chủng loại xã hội như các nhà tự nhiên học sắp xếp các chủng loại loài vật.

Dante thích diễn tả mọi sự qua con số 3 huyền bí.

Balzac cần diễn tả con người qua chủng loại xã hội.

Trong thiên nhiên, các chủng loại loài vật sẽ biến thái theo môi trường. Theo Balzac, con người cũng thế, họ phát triển dưới ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội. Mà còn hơn thế, con người có thể tác động lên hoàn cảnh.

Balzac chọn “mẩu” trong các chủng loại xã hội như: quí tộc, thị dân, nhà buôn, luật sư, bác sĩ, nông dân, tội phạm… và cứ thế bao quát toàn thể thời đại. Chủng loại xã hội còn phong phú và đa dạng hơn chủng loại tự nhiên rất nhiều. Con người còn để lại dấu ấn của mình trên mỗi đồ vật. Vì vậy, muốn hiểu con người, cần phải miêu tả tỉ mĩ đồ vật nữa. Đồ vật là con người nối dài ra. Chứ miêu tả đồ vật không nhằm để trang trí trang văn. Đồ vật của xã hội là tinh thần của xã hội ấy.

Với tầm bao quát như vậy, bao quát đến từng chi tiết như vậy, Balzac gần như chứa đựng trong mình nhà sư học, nhà kinh tế, nhà thống kê… và đó là điều làm cho một trí tuệ như Engels phải cảm phục, Engels đặt Balzac cao hơn các “nhà ấy” gộp lại.

Cái thiên nhiên trong văn chương ngày xưa còn được Balzac thay thế bằng “cái xã hội”. Con người dính chặt với nó, cho dù dính chặt một cách tốt đẹp hay tồi tệ.

Balzac đổ công miêu tả sự dính chặt ấy. Bàn ghế, xe ngựa, áo uần, dáng điệu… được miêu tả trên cùng một làn hương như tâm hồn con người. Sức mạnh của dục vọng ấy đẩy tất cả những thứ ấy quay cuồng, quay cuồng đến mức như điên loạn.

Thế giới vọng động ấy sẽ trơ nên nặng nề không chịu nổi nếu như nó kh6ong được thổi vào bằng một mùi hương khác. Trong tiểu thuyết của Balzac thường có một làn hương lan tỏa, nhà phê bình Sainte Beuve gọi đó là Odor di Femina (mùi hương nữ tính) và nhiều nhà văn khác (Stefan Zweig, Andre Maurois,…) cũng đồng ý như vậy.

Theo Maurois, “Một tiểu thuyết gia quan trọng phải khám phá mọi phương diện của nhân tính trong chính bản thân mình, và cần biết cảm nhận như một người đàn bà cảm nhận”. Ta thấy Balzac xem xét thế giới xã hội bằng một thứ cảm quan tinh tế, như giác quan phụ nữ. Và hầu hết phụ nữ hồi đó thấy rằng hầu như chưa có ai hiểu biết họ tường tận cho bằng Balzac.

Balzac, có lẽ là nhà văn quan trọng nhận được nhiều thư phụ nữa nhất dù ông không hề có ý làm cho họ ứa lệ khi đọc văn ông. Tất nhiên kh6ong nhà văn quan trọng nào lại quan tâm đến việc làm người đọc khóc mùi kiểu “success de mouchoir”.

Trong thế giới của mình, Balzac dung hợp tài tình sức mạnh nam tính và mùi hương nữ tính. Đó là vẻ đẹp của tiểu thuyết Balzac.

Cứ thế, Balzac dựng lại lịch sử của tâm hồn con người mà ông gọi là “lịch sử tự nhiên của xã hội”.

Ông đổ vào công trình ấy toàn bộ tâm trí, sức lực, tình yêu và ý chí của mình. Mà ý chí của Balzac thì ghê gớm. Đó là một quyền năng. Thiên tài của Balzac nằm trong sức mạnh ý chí của ông.

Balzac là một người khổng lồ của ý chí.

Ông có ý chí để sáng tạo, ý chí để yêu, ý chí để… không chết. Ý chí của người kể chuyện “Nghìn Lẻ Một Đêm”. Nhưng người con gái xưa phải cứu mình từng đêm bằng trí tưởng tượng của mình trong sáng tạo. Để làm gì, thì có nhiều cách để trả lời. Nhưng trước tiên vẫn là sáng tạo…

Và hầu hết các nhân vật của ông, như cũng được truyền ý chí đó. Hướng ý chí vào một điều gì, đó là truyện của mỗi nhân vật.

Trong một thế giới dung tục, các nhân vật của Balzac đã hướng ý chí của mình vào mục tiêu dung tục, vào “vàng và thú vui”. Ý chí bây giờ chỉ còn là những dục vọng hạ đẳng. Thú vui và vàng sẽ cuốn họ vào cơn lốc điên cuồng để hài kịch nhân loại trở thành hài kịch phi nhân (Le Comedie in humaine, chữ của Andre Wurmser).

Xã hội Pháp sau Cách mạng Pháp là một xã hội thiên hình vạn trạng. Trong vòng năm mươi năm, cuộc sống biến động liên tục. Quyền lực chính trị, các giai cấp, các niềm tin, quan điểm, thị hiếu… đều không chịu nằm yên. Tất cả đều sôi nôi hẳn lên, xôn xao nhộn nhịp “Chưa từng có cuộc sống ở xứ sở nào lại sôi động, lại n1ong bỏng như vậy”.

Cái xã hội ly kì đó gặp trúng thiên tài Balzac, gặp người thư ký lý tưởng nhất của mình. Balzac quyết định làm người thư ký ấy.

Và “Khi Balzac quyết định đạt tới điều mình khao khát, ông có thể tạo dựng cả một vũ trụ vô biên từ một hạt bụi thường” (Stefn Zweig).

Người thư ký của xã hội Pháp ấy chính là điều ông khao khát. Một xã hội như bao gồm nhiều xã hội của Châu âu do tính đa dạng của nó. Nhưng cuộc đời Balzac cũng thế, như bao gồm nhiều cuộc đời khác nhau do cá tính phi thường của ông.

Tất nhiên, muốn thế phải làm việc, làm việc và làm việc. Chỉ có nô lệ mới làm việc nhiều giờ như Balzac: từ mười hai đến mười lăm tiếng đồng hồ trong một ngày!

Balzac là nô lệ tận tình nhất của nghệ thuật. Và nghệ thuật nhân loại cần có một vài nô lệ như vậy. Đó là hình thức nô lệ duy nhất không bị lên án. Cả tình yêu cũng không được quyền đòi hỏi có nô lệ. Thế mà nghệ thuật… Bao giờ nghệ thuật cũng nghiệt ngã!

Hãy thử hình dung Balzac một mình trong đêm với công việc của mình. Trợ giúp 6ong chỉ có… những giọt cà phê. Voltaire hay Goethe thường có hai ba thư ký giúp mình. Balzac chẳng cần một thư ký nào.

Balzac kh6ong chỉ là thư ký của xã hội mà ông còn là thư ký của chính mình và điều ấy cũng đáng kể lắm chứ. Hơn nữa, nhiều nhân vật trong tác phẩm của Balzac chính là bản thân ông. Thường đấy là một thanh niên ôm đầy khát vọng, chẳng hạn như chàng Raphael de Valentin trong “Miếng da lừa”… tất nhiên ở mức độ nào đó.

Cũng không có người thư ky nào làm việc quên mình như Balzac.

“Từng ngày tar a trong bàn tay tôi như băng tan trong nắng – Balzac viết cho người bạn gái Zulma Carraud – Tôi nào có sống đâu, tôi vắt kiệt mình một cách tàn bạo khủng khiếp”…

Khi Balzac ngồi vào bàn viết, đó là lúc ông “ném mình vào lò luyện mà nấu chảy nó ra như nhà giả kim nấu vàng” như ông tự nhận xét.

Nếu như Balzac có thể biến một hạt bụi thành vàng thì đó không phải là phép lạ, thậm chí không phải là thiên tài (hiểu theo nghĩa bẩm sinh, tự nhiên mà có) mà đó là việc đốt đời mình, là việc ký một giao kèo khủng khiếp với nghệ thuật như Faust đã từng ký với quỷ.

Andra Maurois gọi Balzac là một Promethee, lấy tên thần làm nha đề cho tác phẩm viết về cuộc đời Balzac của mình.

Stefan Zweig trước Maurois cũng đã nói: “Chỉ có cái chết mới có thể đặt giới hạn cuối cùng cho ý chí Promethee của ông”.

Không chỉ vắt kiệt đời mình, Balzac còn muốn vắt kiệt những gì chung quanh tầm với: “Một chiếc cây vĩ đại làm cạn đất đai quanh mình” (un grand ardre resseche le terrain autour de lui).

Hy sinh tất cả cho công việc văn chương, Balzac từng nói rằng: “Tôi thường xây một mái lều bằng ánh sáng phát ra từ ngôi nhà đốt cháy nào đó của tôi”.

Ngôi nhà đang cháy ấy chính là cuộc đời ông. Năm 1850 ngôi nhà ấy cháy hết. Cuộc đời Balzac nằm gọn trong nửa thế kỷ mười chin.

Cứ để cái thân xác ấy tan biến, ta hãy quay về với những người không chết. Đó là Raphael, Goriot, Grandet, Rastignac,… Họ có mặt khắp các xứ sở, sống chung đụng mà không lẫn với các nhân vật khác trong văn chương, một thế giới mà đối với Balzac, nó còn “thật” hơn cả thế giới thật nữa kia. Đang trò chuyện với bạn, Balzac bỗng nhiên trở giọng: “Thôi, bây giờ chúng ta hãy nói chuyện nghiêm trang. Ai lấy Eugenie Grandet mới được?”. Hay là: “Bạn có biết ai mà nàng Felix de Vanderesse lấy không chứ?…Một đám tuyệt vời đấy nhé”. Đến lúc bệnh nặng, Balzac muốn một nhân vật bác sĩ của mình có mặt!

Tin vào thế giới do chính mình sáng tạo, Balzac làm ta tin theo. Phép lạ đầu tiên của Balzac là “Miếng da lừa” (Le Peau de chagrin). Ông gọi đó là “một dụ ngôn phương Đông”. Cứ như là một câu chuyện thần tiên của Balzac từ “Nghìn Lẻ Một Đêm” chuyển tới Paris năm 1830 vậy.

Sau mười năm thử bút, đây mới thực là cánh cổng ảo đi vào thế giới hiện thực, thế giới hài kịch con người của Balzac, dù lúc này ông chưa ý thức về một cấu trúc cho toàn bộ các tác phẩm của mình. Dù chỉ là khởi đầu “Miếng da lừa” lôi cuốn sự chú ý của cả thi hào Goethe.

“Miếng da lừa” đã đưa Balzac bước lên con đường chính của ông, ấy là làm người thư ký đệ nhất của Paris, của Pháp, của thời đại và của thế kỷ mười chin. Khi Balzac tìm ra “Miếng da lừa” là ông tìm ra đạo bùa của mình, thiên tài của mình.

Có đạo bùa ấy thì mọi ước vọng sẽ được thực hiện. Như vây đèn thần mà không có thần linh. “Miếng da lừa: là phép lạ mà không có biến hóa gì. Các biến cố trong truyện là những điều vẫn thường xảy ra trong đời thường. Cả sự co lại của một mảnh da thú. Cả cái chết đến sớm cả những người đàn bà có tim và không tim.

Nhưng tại sao Balzac lại dùng thi pháp huyền thoại trong khi hiện thực xã hội cứ lồ lộ nổi lên trong tác phẩm?

Có những phương trình bậc cao mà muốn tìm nghiệm thực của nó, ta phải dùng đến số ảo.

Phải chăng “Miếng da lừa” là số ảo đó?

Miếng da lừa mang trên mình lời răn khủng khiếp: “Mỗi lần ước, ta sẽ co lại như ngày đời mi!”

Nếu hồn con lừa mà có ở trong miếng da đó thì lừa ta chẳng ngu ngơ gì mà ra vẻ hiền triết lắm.

Giữa thời đại điên rồ, Balzac chế nhạo sự điên rồ. Ông đi ngược dòng nước vô độ tham tàn của thời đại ông bằng triết lý miếng da lừa. Con lừa mang vác tất cả nhưng không thể mang sự vô độ của xã hội tự tàn phá mình, những kẻ tự hủy.

Cái xã hội phù hoa của thời đại được tượng trưng bằng người đàn bà đẹp nhất Paris, nữ bá tước Foedora. Và cũng như Paris, nàng đẹp nhưng không tim. Trái tim dường như là vật tầm thường chẳng đáng có mặt trong thế giới xa hoa. Có thể lấy vàng thay thế nó lắm chứ. Thay vì lấy TÂM làm bản vị, người ta đã chọn VÀNG.

Phản đề của nữ bá tước là cô gái dân dã Pauline, người có một tình yêu vô hạn. Nhưng nàng chỉ là hình bóng lý tưởng. Balzac dường như không tin là nàng có thật trên đời. Nàng chỉ là “bông hoa của lửa”, là “người thoáng hiện”, là “biến ảo của mây”… Nói cho cùng, nàng chỉ là “một từ ngữ chạy qua trí nhớ mà không nắm bắt được”.

Chàng Raphael de Valentin nắm được miếng da lừa. Để rồi bị nó hủy hoại cả thể xác lẫn tâm hồn. Nói rằng chàng tự hủy thì đúng hơn. Nhân cách mất dần, ngày đời tàn lụn.

Balzac giống và không giống Raphael. Ông cũng nắm bắt được đạo bùa nghệ thuật. Ngày đời của ông co lại, nhưng ông không hề hủy hoại. Tinh thần ông không tàn lụi mà bất tử.

Balzac đứng trên miếng da lừa và cao hơn hẳn thời đại của mình.

Nhưng nên nhớ dẫu có bùa phép gì, bàn chân Balzac không khi nào rời mảnh đất thực tại. Những yếu tố kỳ ảo và lãng mạn ở Balzac bao giờ cũng được đan dệt vào thực tại.

Những truyền kỳ phương Đông, những anh hung ca Trung cổ, những dã sử lãng mạn của Scott đã qua rồi… những hành động pháp thuật và anh hung mã thượng không cần thiết là đề tài nữa.

Cần quay vào tâm hồn con người, khám phá ra ở đây bóng tối và ánh sáng của chính nó hay của hồi quang xã hội. Thế kỷ mười chín phải tìm ra đề tài cho mình, tìm nhân vật trong lòng mình.

Và nó tìm ra Eugenie Grandet

Với tác phẩm này, “Balzac đã khám phá ra bí ẩn vĩ đại. Mọi thứ là nguyên liệu. Thực tại chính là một quặng mỏ không bao giờ cạn – Stefan Zweig viết – Tất cả mọi người đều là diễn viên trong hài kịch nhân loại, không phân biệt sang hèn…”

Nghĩa là văn chương sẽ hướng về những người “thường” nhất, những việc “thường” nhất, và tuy rất thường, vẫn mang ý nghĩa trọng đại. Bởi Balzac khám phá ra trong những gì bình thường ấy những động lực nội tại mãnh liệt.

Chính con gái một bác phó thùng là Eugénie đã trở thành nhân vật trung tâm, chứ kh6ong phải tiểu thư nào. Cô chẳng phải là sắc nước hương trời mà chỉ có vẻ đẹp thôn dã, thậm chí đã từng mắc bệnh đậu mùa khiến là da hơi thô đi.

Khi cô Eugénie ấy thu hết can đảm bỏ thêm một miếng đường vào tách cà phê cho người yêu trước đôi mắt gườm gườm của người cha keo kiệt thì động lực tình yêu đã khiến nàng trở thành một “anh hung” đúng nghĩa.

Vậy là, thay vì viết về những hành vi bên ngoài của những nhân vật cao sang, mưu trí, hiệp sĩ… tiểu thuyết quay về với con người thường.

Nhưng liệu con người thường có gì đáng chú ý. Con người ấy rất dễ lẫn trong đám đông mù mịt. Con người ấy có khi chỉ là một sự thầm lặng.

Nhưng Balzac biết cách làm cho một con người thường trở nên bừng sáng. Hãy cho con người thường ấy sống với một động lực nội tại mạnh mẽ, sống với một ngọn lửa, một ánh sáng dù chung quanh họ tối ám lạnh lẽo như căn nhà lão Grandet, như cái tỉnh Saumur ảm đạm nhạt nhòa.

Cái ngọn lữa khiến cho Eugénie không cúi mình nữa, cô đứng bật dậy, cầm lấy con dao, để rồi đòn trả đòn cho coi. Chỉ bảo vệ cho một kỷ vật – lúc ấy ai dám bảo cô Eugénie dân dã ấy không có trái tim hiệp sĩ?

Một lần nữa, Balzac đi ngược dòng văn chương thời đại khi ông viết về cuộc sống thường ngày, tiền nong, những bi kịch bình thường kh6ong đổ máu…

So với cái tỉnh Saumur buồn tẻ đó thì Paris quả là một địa ngục đầy cám dỗ.

Trong “Cô gái mắt vàng” (La Fille aux yeux d’or) Balzac dẫn ta vào một cuộc hành trình qua những vòng địa ngục của Paris.

“Cô gái mắt vàng” tuy là tiểu thuyết ngắn nhưng lại khá quan trọng vì ở đó ta thấy rõ Paris của Balzac. Như Luân Đôn của Dickens và Petersburg của Dostoevski.

Vòng đầu địa ngục của Paris là thế giới của vô sản, thợ thuyền. Đó là thế giới đầy mồ hôi, đen bầm vì đấm đá, tái xanh vì rượu chè nhưng mang trong mình một sức mạnh chưa được biết đến.

Vòng thứ hai là thế giới của tiểu tư sản, của các thần ký. Đó là những kẻ làm việc dưới làn roi của lợi tức, dưới đòn gánh của tham vọng, sống dai dẳng và ngu độn lần hồi.

Vòng thứ ba là cái bụng của Paris, thế giới của bọn nhà băng, nhà buôn, đầu cơ, quan tòa… thế giới “hẳn một ngày nào đó sẽ tìm thấy nhà thơ Dante của mình”. Đó là nơi người tat hay thế tất cả bằng những lời nói suông, và “linh hồn thành một thanh quản”. Đó là nơi người ta “Đánh mất trái tim mình, ở đâu?… Tôi không biết”.

Tiếp theo là những vòng địa ngục khác. (vòng thứ tư thuộc tầng lớp nghệ sĩ. Vòng cuối cùng thuộc địa chủ, quý tộc), là thế giới của bọn giàu sang, phù phiếm, của vàng và khoái lạc, của sa đọa.

Paris không hiện lên như một kinh thành hoa lệ vẫn thường được tô vẽ, thậm chí cũng không thanh lịch nữa. Dưới ngòi bút của Balzac, nó gần như một con quái vật.

Không phải ngẫu nhiên mà Balzac đề tặng “Cô gái mắt vàng” (1834) cho họa sĩ Delacroix là người đã vẽ bức tranh hào hứng về Dante và Virgil dưới địa ngục.

Cùng năm viết “Cô gái mắt vàng” Balzac viết cho Eva Hanska nói về bộ “Nghìn Lẻ Một Đêm phương Tây” của mình.

Trước đó, ông đã tự tin bảo cô em gái: “Hãy chào mừng anh đi, anh đang sắp sửa trở thành một thiên tài đây”.

Tiểu thuyết Ông già Goriot (le Pere Goriot) ra đời sau những cảm hứng đó.

Câu chuyện xảy ra trong một quán trọ gia đình, nơi đan chéo nhiều mảnh đời khác biệt.

Lão Goroit bị hai cô gái lấy chồng quý tộc bỏ rơi trong quán trọ mặc dù lão hết lòng thương yêu, tôn thờ và hy sinh cho con.

Lão bị đẩy lùi về quá khứ, về cái chết trong khi một chàng trai trẻ là Rastignac từ tỉnh lên đang hăm hở tiến thân.

Chàng gặp tên tội phạm ranh ma Vautrin cũng ơ uán trọ và gần như chịu sự kìm cặp của hắn.

Song song với quán trọ ấy là thế giới của đám quí tộc. Hai cô con gái của lão Goroit, Anastasie và Delphine. Và người chị họ của Rastignac là nữ tử tước De Beauseant. Thật ra các người đàn bà ấy ở trong xã hội quý tộc của họ cũng là ơ trong một quán trọ phù phiếm. Cuộc sống của họ đầy những lo toan, tính toán, vị kỷ tầm thường hết sức.

Rastignac trước đây là nhân vật phụ trong cuốn “Miếng da lừa”. Ta sẽ còn gặp lại anh nhiều lần sau này trên những chặng đường khác nhau của đời anh trong những cuốn sách khác. Nhiều nhân vật của Balzac cũng sẽ tái hiện như thế.

Thủ pháp ấy không phải là một “độ dư văn học” mà chi là tái hiện cuộc sống trong sự vận động của nó. Chẳng qua nó như những “người quen” ta thường gặp lại trên đường đời.

Từng uyển tiểu thuyết chỉ là những trang đời mà số phận của mỗi nhân vật chưa kết thúc. Như “huyền thoại người cha”: Goriot chết, các cô con gái còn tiếp tục số phận của mình.

Dù rằng các nhân vật của Balzac sống trong “xu hướng nguyên tử hóa xã hội, đó là tình trạng con người bị tách ra thành những cá thể biệt lập” (chữ của Boris Soutchkov) nhưng họ vẫn phụ thuộc vào nhau. Trong quan hệ tình người, họ biệt lập nhưng họ sẳn sàng liên minh để thống trị xã h6o5i. Tên Vaurin phạm pháp sau này lại được cử ra bảo vệ luật pháp. Bơi vì pháp luật ấy cũng chỉ là một huyền thoại.

Balzac viết “Ông già Goriot” vào năm ba mươi sáu tuổi. Ông chỉ mới đi được nửa đoạn đường sáng tạo. Ông sẽ còn cho thế giới vỡ mộng (Illusions perdues), Cesar Birotteau, Người chị họ Bette, Người anh họ Pons

Làm việc với một năng lực khiến cho thế giới kinh ngạc mà kiến trúc bộ “Hài Kịch Nhân Loại” vẫn chưa hoàn tất. Đến cuối đời, Balzac chỉ thi công được bốn phần năm đồ án của mình.

Cái chết bao giờ cũng đến quá sớm, nhất là đối với các thiên tài.

Cái chết dường như không là sự kết thúc mà là sự dang dở đối với những người sáng tạo. Balzac ngã xuống trong khi bờ cõi văn chương của ông vẫn còn mở rộng đến những vùng hoang vu.

Barbey d’ Aurevilly cho rằng công trình của Balzac hãy còn dang dở như tác phẩm Don Jaun của Byron.

Thế mà Hugo vẫn nói: “Tất cả quyển sách của ông tạo thành quyển sách sống động, huy hoàng và sâu thẳm mà ở đấy toàn thể nền văn minh hiện đại của chúng ta hiện lên trong vận động, đi lại giữa công viên của mình, với một yếu tố kinh hoàng và khủng khiếp pha lẫn thực tại. Một quyển sách mà nhà văn gọi là Hài Kịch dù lẽ ra có thể gọi là Sử ký, dung hợp tất cả thể loại và phong cách, tràn ngập những sự thật của cuộc sống hàng ngày, riêng tư, bình thường và thông tục, nhưng có lúc… bất ngờ mở ra một tri kiến thâm u và bi đát nhất”.

Các thiên tài là những người tri âm với nhau trước mọi người. Không chỉ Hugo mà Goethe, Baudelaire, Dostoevski và Mark là những người đầu tiên nhìn thấy sự vĩ đại thực sự của Honore de Balzac.

Qua “Hài Kịch Nhân Loại” dường như Balzac thầm nhủ rằng tất cả chúng ta đều là diễn viên. Nghĩa là không có quyền từ chối vai trò của mình. Đừng hòng chỉ làm khán giả mua vui.

Và Balzac là một diễn viên xuất chúng. Vai trò của ông là người chép sư thiên tài của xã hội. Mỗi thế kỷ cần có một Balzac.

Nhật Chiêu

 

About nhatchieu

- Nhà Văn Nhật Chiêu (04/03/1951): Giảng viên tại Đại học KHXH và NV Tp Hồ Chí Minh Việt Nam. - Lĩnh vực nghiên cứu: về văn học Nhật Bản và thế giới, đã viết nhiều sách và truyền cảm hứng về văn học cho rất nhiều thế hệ học trò - Tác phẩm đã in: Nhiều sách nghiên cứu văn học và tác phẩm văn chương
This entry was posted in BÌNH LUẬN VĂN HỌC and tagged . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s