LỜI KINH SE SẺ

Hoa mơ tên cành

Chim non se sẻ

Cất lời tụng kinh

Issa

(Suzume go mo

Ume ni kuchi aku

Nenbutsu kana)

Hoa mơ mùa xuân nở. Cuộc đời đang khai hội mới. Đứng trước niềm vui ấy, chim non se sẻ cung cất lời tụng kinh, niệm Phật (nebutstu), và trần gian rền vang lời kinh se sẻ, một lời kinh hồn nhiên thánh thiện vô song.

Se sẻ biết tụng kinh ư? Trong sách Thái căn đàm (1) (Lời rau cỏ) xuất hiện vào đầu thế kỷ XVII, lời chim tiếng trùng đã được nhắc tới như sau:

“Điểu ngữ trùng thanh tổng thị truyền tâm chi quyết”

(Lời chim tiếng trùng đều là bí quyết truyền tâm)

Hình ảnh se sẻ, đặc biệt chim sẻ non, đối với thơ haiku, thường tượng trưng cho sức Xuân:

Chim sẻ non

Trong từng long cánh

Có niềm vui tuôn

Sekiu

(Suzumego ya

Hane aritake no

Ureshi gao)

Có nghĩa là, chim sẻ non tượng trưng cho “pháp vui”, cho diệu pháp của niềm an lạc mà nếu ai biết tìm theo sẽ huy hoàng thân tâm cũng như chim kia huy hoàng lông cánh.

Chim sẻ non cũng là người bạn thường thấy trong thơ Issa (1763 – 1827), bạn đồng hành của nhà thơ Haiku lừng danh này trên đường về Tịnh độ.

Mùa Xuân 1818 ở Shimosa, Issa ngắm nhìn bầu trời xanh mát thanh tân với niềm cảm hứng chim sẻ:

Một bầu trời Xuân

Bầy chim se sẻ

Tụng ca vang lừng

Issa

(Hatsuzora wo

Hayashi koso sure

Suzume made)

Muôn loài đều có Phật tính nhưng dường như những con chim sẻ non trong thơ Issa bay lượn, ca hát, đi lại với một Phật tính sáng rõ hơn cả. Và Phật tính ở đây chính là se sẻ tính vậy.

Nhìn bầy chim sẻ

Phải chăng hành cước

Chùa xa mới về?

Issa

(Zenkoji

Itte kita kao ya

Suzume no ko)

“Chùa xa” là cách dịch thoát. Trong nguyên văn, chùa ấy có tên cụ thể là Zenkoji (Thiện Quang tự: ngôi chùa ủa ánh sáng tốt lành), tọa lạc ở Nagano, thành lập vào năm 670, nơi mà thiện nam tín nữ ở Nhật đều muốn ít ra là một lần trong đời. Đã hành hương đến Zenkoji, mọi người cảm thấy an tâm hạnh phúc. Issa thấy rằng bầy chim sẻ lúc nào cũng hạnh phúc, dù chúng có đến Zenkoji hay không. LÚc nào cũng hạnh phúc, chim sẻ dường như thường trú trong Niết Bàn. Một nương trà chẳng hạn, cũng đủ là Niết bàn của chim sẻ:

Trên nương trà

Một bầy se sẻ

Trốn tìm hương hoa

Issa

(Cha no hana ni

Kakurenbo suru

Suzume kana)

Chúng chơi đùa trong hoa với với tất cả niềm vui vô ngại. Chẳng có bọn săn chim nào được phép vào trong nương trà, cõi thiêng liêng ngát hương của tâm hồn Nhật Bản. Đó là nơi an trú của chim sẻ, của Issa và mọi Issa (tên này của nhà thơ đọc sang âm Hán Việt là Nhất Trà)

Thực ra, trước Issa, Basho (1644 – 1694) đã có một bài haiku về chim se sẻ và nương trà:

Chim sẻ đồng xa

Thường về lẫn trốn

Bên trong nương trà.

Basho

Cả hai bài thơ, tuy có khác nhau về việc “lẩn trốn” với “chơi đùa”, vẫn hàm ngụ mối tương quan kỳ lạ giữa hoa và chim, mối tương quan mà con người chúng ta vẫn có với ngàn sao bí ẩn lung linh.

Chim sẻ của Issa, nếu như xem nương trà là đền chùa thì chúng cũng xem đền chùa chẳng khác nương trà là bao. Khi người ta làm lễ triển lãm tượng Phật (lễ Kaicho) thì chúng cũng có mặt:

Lễ Phật ban mai

Chim se sẻ đến

Đúng giờ không sai.

Issa

(Suzumego mo

Asa kaicho no

Ma ni ainu)

Thật ra thì chim sẻ với bản tính hiếu kỳ trẻ con, có mặt mọi nơi, không riêng gì cuộc triển lãm. Chúng vô tình đến và vô tình đi. Nhưng vô tình chính là con đường của Đạo.

Không phải vì cái vô tình ấy mà chim sẻ kh6ong biết đến những tình cảm sâu xa nhất của con người, như tình mẫu tử:

Sẻ mẹ dặn dò:

Bay về cành trúc đấy

Và bay đến cây mơ!

Issa

(Take ni iza

Ume ni iza to ya

Oya suzume)

Mất mẹ từ thuở ấu thơ, Issa luôn luôn muốn biến cõi ta – bà này thành thế giới của tình yêu, thế giới mang trái tim từ mẫu. Tương truyền, mới lên chin, Issa đã viết bài haiku này:

Đến đây nào, với tôi

Cùng chơi đùa, chim sẻ

Không còn mẹ trên đời.

Issa

(Ware to kite

Asobe ya oya no

Nai suzume)

Trái tim của Issa, đối với muôn loài, đặc biệt với những sinh linh nhỏ bé như mèo, chuột, ruồi, muỗi, chuồn chuồn, con ốc, cái kiến, chim sẻ… tràn ngập tình yêu. Lòng trìu mến của ông hướng về những con chim sẻ nhỏ thì thật là vô tận:

Bay đi, bay đi thôi

Những con chim sẻ nhỏ

Ngựa phi đến gần rồi.

Issa

(Suzume no ko

Soko noke soko noke

o-uma ga toru)

Issa gần như đồng hóa mình với những chim sẻ non, con ếch gầy, con ốc nhỏ… để cùng bay lên mây, cùng chiến đấu, cùng leo núi Fuji.

Ngoài Issa, chim sẻ còn là hình ảnh yêu dấu của nhiều nhà thơ haiku khác. Bài thơ chim se sẻ lỗi lạc nhắt của Shiki (1866 – 1902) là:

Ngoài hiên

Se sẻ nhảy nhót

Ướt dấu chân chim.

Shiki

(Nureashi de

Suzume no ariku

Roka kana)

Đôi bàn chân nhỏ bé và ướt át của chim sẻ đã in lên thềm nhà những dấu ấn vô thường, tựa như những ngôi sao ba cánh. Những ngấn tích ngộ nghĩnh ấy sẽ tự biến mất, thật nhanh chóng. Nhưng so với chúng, những cái mà ta tưởng là to tát, liệu có hơn gì khi mà vô thường là luật của muôn đời?

Với thi hào Basho (1644 – 1694) giữa những hình tướng khac nhau trong đời sống, có một mối đồng cảm huyền bí:

Từ trên rầm nhà

Đáp lời chim sẻ nhỏ

Rúc rich đám chuột con.

Basho

(Suzumego to

Koe nakikawasu

Nezumi no su)

Chim sẻ non và đám chuột nhỏ dường như đang hòa âm với nhau. Tuy vậy, để đạt đến sự đồng cảm đó, có bao nhiêu lần ta phải vượt qua vô số niềm nghi ngại? Như cái nhìn của Onitsura (1660 – 1738):

Chim sẻ nhỏ nhoi

Nửa thì thân thiện

Nửa sợ con người.

Onitsura

(Hito ni nige

Hito ni nareru ya

Suzume no ko)

Không phải chỉ ở con chim sẻ non kia, tính do dự bất định mới bộc lộ rõ ra như vậy. Trong ta có con sẻ non ấy, tính chất nửa nọ nửa kia ấy, niềm băn khoăn xao xuyến ấy.  Hoặc là… hoặc là… nửa muốn lăn vào đời nửa muốn rời xa nó. Nếu không thể đại ngộ thì chỉ có đại nghi.

Chim sẻ cũng không vắng bóng trong thơ haiku hiện đại. Với Seisensui (1884-1976), lại nghe chim sẻ hót:

Không một giấc mơ

Đêm dài nằm ngủ

Tiếng sẻ rền quanh ta.

Seisensui

Sự lặng lẽ của giấc ngủ trống rỗng với tiếng ríu rít ồn ào của chim sẻ vừa tương phản vừa tương hợp. Nếu người ngủ đang mơ, giấc mơ sẽ tan vỡ vì tiếng chim. Ở đây, tiếng chim sẽ thay thế cho giấc mơ đồng thời kêu gọi sự tỉnh thức. Và một lần nữa lời chim (điểu ngữ) đến với ta như một bí quyết truyền tâm.

Có một loài chim ở Nhật gọi là “chim sẻ trong mây”, túc chim hibari (vân tước). Trong thơ Issa, nó vẫn say sưa hót, cả trong bóng tối, cả trong mưa:

Sẻ mây hát ca

Cuối rừng bóng tối

Vẫn chưa phai nhòa.

Issa

(Yabujiri wa

Mada kurai zoyo

Naku hibari)

Ban mai

Chim sẻ mây hót

Giữa cơn mưa dài

Issa

(Ariake ya

Ame no naka yori

Naku hibari)

Vì hát ca là bản tính của chim, là cái hiện thành viên mãn nhất của chim, nó thể hiện sâu xa nhất cái gọi là “điểu ngữ”, lời kinh của chim.

Lời kinh se sẻ vẫn rền vang trong đời, lời kinh của những sinh linh nhỏ bé, những kiếp đời vô thường mong manh nhưng vẫn bình đẳng với những vì sao chói rạng nhất.

Lời kinh se sẻ là lời tụng ca thành kính trước mùa xuân, trước cuộc đời, trước bầu trời bao la vĩnh cửu.

Còn một con chim sẻ non trong cõi ta – bà này là còn lời kinh se sẻ.

Chú thích:

(1)Thái căn đàm: tác phẩm của Hồng Tự Thành đời Minh, bao gồm 359 câu triết ngôn rút ra từ các nguồn tư tưởng Phật giáo, đặc biệt Thiền Tông, với cả Nho và Lão, được truyền sang Nhật vào khoảng thế kỷ XVIII với tên gọi theo âm Hán – Nhật là Saikontan và ngay lập tức, phố biến rộng rãi.

(2)Bài viết này nhằm bổ sung cho bài “Nam mô hoa đào” đăng trên nguyệt san GIác Ngộ số Xuân 1997.

About nhatchieu

- Nhà Văn Nhật Chiêu (04/03/1951): Giảng viên tại Đại học KHXH và NV Tp Hồ Chí Minh Việt Nam. - Lĩnh vực nghiên cứu: về văn học Nhật Bản và thế giới, đã viết nhiều sách và truyền cảm hứng về văn học cho rất nhiều thế hệ học trò - Tác phẩm đã in: Nhiều sách nghiên cứu văn học và tác phẩm văn chương
This entry was posted in BÌNH LUẬN VĂN HỌC and tagged , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s