Thơ trữ tình Ba Tư: cơn say và cuộc nhảy múa của tâm linh

Đọc thơ trữ tình Ba Tư qua ba nhà thơ lớn Omar, Rumi và Hafiz là cùng túy lúy với họ, nhảy múa với họ và hóa thân với họ trong tiếng cười và lệ ứa.
Cùng chào đón cuộc đời và ca mừng vũ trụ trong những huyền diệu ban sơ, cũng là những huyền diệu mọc lên từ trái tim con người.
OMAR KHAYYAM VÀ CHÉN RƯỢU HUYỀN MINH

Ra đời vào giữa thế kỷ XI ở Nishapur, Ba Tư, được gọi một cách đơn giản là “Omar, con của Irahim thợ làm lều” cho thấy Omar thuộc một dòng họ có biệt danh “Thợ làm lều” (Khayyam) mặc dù gia đình ông cũng như ông, không ai làm lều nữa. Thay vì thế, Omar trở nên một Imam, tức tu sĩ, hay đúng hơn là một giáo sư, nổi tiếng thông thái.

Ông là tác giả của những quyển sách hình học, đại số, khí tượng học, siêu hình học và cả y khoa, được ca ngợi là nhà toán học và thiên văn học lớn nhất thời Trung cổ.

Tám thế kỷ sau khi ông mất, nhờ bản dịch Anh ngữ của Edward Fitzgerald (1809-1883) từ 101 bài thơ của ông, Omar Khayyam trở thành nhà thơ Ba Tư được đọc nhiều nhất trên thế giới.

Thơ Omar được làm theo thể thơ Rubai quen thuộc của Ba Tư, giống như thơ tứ tuyệt với cách gieo vần a-a-b-a hay đôi khi a-a-a-a, những bài thơ không có tên. Một tập thơ Rubai là một chuỗi những phiến đoạn bốn câu như vậy.

Thơ Omar truyền lại không đầy đủ. Một thư viện ở Calcutta giữ được 516 bài Rubai của ông, hoặc được tin là của ông.

Những đề tài nghiêm trọng như định mệnh, vật chất và tâm linh, thiện và ác chảy vào thơ Omar dễ dàng như chính dòng rượu mà ông hay nhắc đến.

Omar là một nhà tư tưởng tự do, một đạo sư tự do. Tuy vậy, không thể phủ nhận tư tưởng thần bí của phái Suji trong thơ ông như nhiều người đã làm, kể cả Fitzgerald.

Phái Suji tin rằng linh hồn cá thể có thể hợp nhất trở lại với Thượng Đế (linh hồn vũ trụ), sau khi rũ bỏ mọi hệ lụy và dục vọng trần gian. Phái này bị Hồi Giáo chính thống xem là dị giáo, nên thường biểu hiện tư tưởng của mình bằng các biểu tượng thơ ca, chẳng hạn như rượu. Như Suji là một người say mà không rượu. Như vậy, đây là cơn say xuất thần, cơn túy lúy của tâm linh bằng rượu chớ không phải kẻ đánh chén.

Vì vậy khi Omar ca ngợi uống rượu, ta đừng cho là nát rượu.

Trong quán mơ màng nghe giọng nói

            Tình mơ vừa hé một bên trời

Dậy đi mà uống, xin đừng đợi

Chén cạn đời không phải ráo môi

Ta thấy cái hiền minh của rượu (không màng đến danh vọng, quyền uy, kiếp sau …) chứ đừng dây vào cái ngu xuẩn của nó (mượn rượu làm càn).

Omar ca ngợi rượu cũng như Lý Bạch. Nhưng họ là hiền nhân chứ không phải bợm bãi.

Râu ta ngủ trên thềm tửu quán

            Thiện ác giã từ hai thế gian

            Chúng có rơi như hai quả cầu xuống phố

            Em thấy chăng ta túy lúy nằm

Ông không muốn bận tâm đến những bận tâm và khái niệm của người đời. Ông tự do ngủ, tự do túy lúy. Thế mà Omar vẫn tin vào định mệnh:

Ngón tay huyền ấy gieo hàng chữ

            Tài trí hòng đảo nửa câu

            Cho dù gom hết bao nhiêu lệ

            Một chữ kia thôi xóa thế nào?

             Khi nguồn cội ấy cho tôi sống

Bài học đầu tiên một chữ tình

Chìa khóa làm bằng tim bé nhỏ

Mở vào kho báu của huyền linh

Dù vậy, định mệnh ấy, nguồn cội mà Omar tin ấy vẫn có thể được mở ra bằng một chìa khóa làm nên từ trái tim nhỏ.

JALUDDIN RUMI VÀ NHỮNG HÓA THÂN

Rumi thường được xưng tụng là “Nhà thơ huyền bí vĩ đại nhất của bất kỳ thời đại nào”. Nhưng chính xác, ông là người của thế kỷ XII: Rumi (1207-1273).

Ông là người thành lập ra một giáo phái gọi là Mawlawi hay “Các giáo sĩ nhảy múa” ở Konya, là nơi ông sống gần trọn cuộc đời. Qua những bài ca và điệu múa thiêng liêng, họ tin rằng mình sẽ đạt đến trung tâm hoàn hảo của đạo.

Rumi biên soạn hai kiệt tác lừng danh.

Thứ nhất là tập Divan (Thi tập) mang màu sắc thánh thi mà tên đầy đủ là Divani Shumshi Tabriz (Thi tập mặt trời Tabriz).

Thứ hai là tập Mathnavi (Những câu thơ đôi) được người Hồi Giáo xưng tụng là “Kinh Koran của Ba Tư” đồng thời, nó cũng được xem là Kinh thánh của phái Sufi. Nó thể hiện khát vọng của con người hợp nhất với Thượng Đế. Mathnavi là tập thơ đồ sộ gồm sáu quyển chứa đựng vô số chuyện cổ, dụ ngôn, giai thoại, châm ngôn … Rumi bỏ ra bốn mươi ba năm viết Mathnavi.

Theo Rumi, hành trình của con người có ba chặng đường.

Trong chặng thứ nhất, con người tôn thờ bất kỳ điều gì, như tiền của, đất đá, đàn bà…

Đến chặng đường thứ hai, con người tiến bộ hơn, tôn thờ Thượng Đế. Nhưng chặng thứ ba mới thật sự là tối hậu khi mà con người không còn nói rằng “Tôi tôn thờ Thượng Đế” cũng không nói rằng “Tôi không tôn thờ Thượng Đế”.

Có thể nói rằng trong chặng đường cuối cùng, linh hồn cá thể và linh hồn vũ trụ đã hợp nhất, không còn phân biệt nữa, do đó cũng không có thờ phụng nữa.

Con người mang trong mình mọi hóa thân trước đây để rồi lại tiếp tục hóa thân cho đến khi trở về với chân không.

Từ khoảng vật chết đi

Cây cỏ chết rồi tôi làm thú hoang

Con thú chết đi, tôi hóa con người

Dẫu là con người, lẽ nào không chết

Sau hóa thần linh bay lượn giữa trời

Và cả thiên thần cũng đến ngày mất chỗ

Bởi mọi điều chung cuộc sẽ tan thôi

Ta sẽ là chân không! Bài ca lên tiếng

Ta đi đâu rồi cũng trở về người!

Đọc Rumi, ta chạm vào những tư tưởng u huyền mà ta cũng thường gặp ở Phật giáo và Lão Tử.

Rumi nhắc ta rằng bức tường được chiếu sáng không phải là chính ánh sáng.

Đừng bám vào viên gạch của tường

            Hãy tìm cho ra ánh nắng nguyên sơ.

Nghe như lời của Đạo đức kinh.

Một bài thơ khác của Rumi gợi ta nhớ đến thiên “Tề vật luận” của Trang Tử:

Tôi thấy mùa đông đang dệt tuyết

Thành chiếc áo choàng của cái chết

Và trái đất tan thương, trần trụi, cô đơn

Tôi thấy thời gian đang dệt mạng hoàng hôn

Và con tằm nhả tơ dệt kén

Tôi thấy vô cùng là một điều nhỏ bé

Và điều nhỏ bé kia chính là cái vô cùng …

Điều đó có nghĩa là những kinh nghiệm tâm linh dễ dàng gặp nhau. Ngôn ngữ có thể khác nhưng những kinh nghiệm sâu xa đó tự bản chất là một.

Và Rumi nói về tình yêu:

Nhân loại có một sự bất toàn, một khát vọng và đấu tranh bằng mọi cách để trở nên viên mãn tuyệt vời

Điều đó chỉ có thể  tìm thấy trong tình yêu mà thôi.

Là khi cái ta nhỏ bé được dìm trong cái biển tình mênh mông.

HAFIZ, NGƯỜI THỂ HIỆN CÁI VÔ HÌNH

Khoảng giữa thế kỷ XIV, thời Shah Shoja là một thời kỳ đặc biệt sáng chói của thơ ca Ba Tư. Nhất là sự xuất hiện của một nhà thơ trữ tình vĩ đại, được xem là “Ông hoàng của thơ trữ tình Ba Tư” Hafiz (khoảng 1320-1390).

Tập Divan (Thi tập) của Hafiz lấy cảm hứng lớn cho Goethe khiến Goethe bắt chước theo đó viết “Divan Đông Tây”.

Hafiz được xưng tụng là một trong ba nhà thơ vĩ đại nhất của nhân loại, hai người kia là Dante và Shakespeare.

Hafiz sinh ra và sống trọn đời tại thành Shiraz. Ông được Shah Shoja che chở một thời gian nhưng sau đó thất sủng.

Tập Divan của Hafiz là một tuyển tập lớn, bao gồm hàng trăm Ghzal (đoản ca). Các thi tập được gọi là Divan thường là tổng kết đời thơ của một thi sĩ.

Ghzal là thể thơ truyền thống của Ba Tư, mỗi bài thơ từ 8 đến 12 câu, thường dùng để ca ngợi tình yêu hoặc rượu.

Là một tín đồ Sufi, Hafiz tâm linh hóa mọi hiện tượng đời thường. Từ trà, rượu, cây thụ cầm, lọn tóc cho đến gương mặt người tình… tất cả hình ảnh đó dù phàm tục đã trở thành thiêng liêng trong không gian thơ ca, không gian tình yêu của Hafiz. Chính vì vậy Hafiz được mệnh danh là “Người thể hiện cái vô hình” (Lisan-ol ghayb).

Vì thiêng liêng hóa cái đẹp của con người, thơ Hafiz tuy phảng phất tư tưởng tôn giáo vẫn rạo rực niềm vui đời sống. Chim chóc, cỏ hoa và cốc rượu như mở hội tưng bừng trong các vần thơ say đắm của ông. Và những ai say đắm trong tình yêu không quên thơ ông được.

Khi các tình nhân ưu sầu gặp gỡ

Có ai quên ca ngợi Hafiz

Và tình yêu được ông ca ngợi như sau:

            Tôi chưa từng nghe thấy

Tiếng nào êm dịu hơn tiếng tình yêu

Đấy là hoài niệm duy nhất

Còn truyền lưu dưới bầu trời này

Thơ Hafiz ôm hôn cả niềm vui lẫn nỗi buồn trong cuộc sống. Nhiều khi nó gợi lên một cảm thức ứa lệ trong sự vật.

Thiên tài của Hafiz không tạo lập những đề tài mới lạ. Ông chỉ nhặt đề tài xưa cũ rồi đưa nó lên cao vút bằng sức phóng kỳ diệu của thơ ông.

Khi tôi chết, vào mồ tôi sẽ thấy

Làn khói bay như mây quấn chân em

Trong tim chết, lửa vì em vẫn cháy

Khói mọc lên theo ngọn lửa tình.

Cũng như Lý Bạch, dù thích đưa mình vào mộng, Hafiz vẫn dạo chân trên mặt đất, vẫn mang trong lòng một quê hương không gì sánh được cho dẫu là thiên đường:

Hồn tôi trần trụi, xin đừng gởi

            Xa căn nhà nhỏ kiếm thiên đường

            Quanh tôi có mở trời hay đất

            Hồn vẫn bay về thăm cố hương.

Thơ Ghzal của Hafiz: “Như một số nhà phê bình đã gọi, đó là sự đan bện những biểu tượng và hình ảnh bóng gió xung quanh một đề tài trung tâm (Wickens). Một bản giao hưởng của các đề tài (Arberry), một sự nhất quán kín đáo (Stolz), một phong cách trữ tình duy lý tinh tế (Bausani), một cấu trúc tượng trưng ba tầng có khả năng đem lại những âm hưởng vô cùng phong phú (Lazard)”*.
————————————————————-

(*) Theo Charles-Henri de Fouchcour trong bài “Hafiz, bậc thầy thi ca Ba Tư”, tạp chí Thông tin Unesco, tháng 3. 1989, trang 19.

About nhatchieu

- Nhà Văn Nhật Chiêu (04/03/1951): Giảng viên tại Đại học KHXH và NV Tp Hồ Chí Minh Việt Nam. - Lĩnh vực nghiên cứu: về văn học Nhật Bản và thế giới, đã viết nhiều sách và truyền cảm hứng về văn học cho rất nhiều thế hệ học trò - Tác phẩm đã in: Nhiều sách nghiên cứu văn học và tác phẩm văn chương
This entry was posted in BÌNH LUẬN VĂN HỌC and tagged , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s