Tính hậu hiện đại trong ‘Hạc vàng’ của Nhật Chiêu

Phan Nhật Chiêu từ lâu đã trở thành cái tên quen thuộc đối với những người nghiên cứu và yêu thích văn chương. Ông là dịch giả, nhà “Nhật học”, một “cư sĩ” gắn bó với Thiền và Phật giáo, là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu có giá trị…

Hiện nay, Nhật Chiêu tập trung vào công việc sáng tác truyện ngắn – những truyện ngắn mang hơi thở của Hậu hiện đại. Hạc vàng là tác phẩm trích từ tuyển tập Người ăn gió và quả chuông bay đi.

Mưỡu

Cánh hạc vàng, cánh hạc vàng
Hư không bỏ lại, điêu tàn mang theo

Câu mưỡu đơn của thể thơ hát nói mở đầu truyện ngắn. Mưỡu là đề từ chăng? Để gợi nhớ về Thôi Hiệu chăng? Hay là để tìm kiếm hạc vàng của thời xưa cũ?

Bìa tập truyện ngắn.
Bìa tập truyện ngắn.

Nếu chúng ta phân tích một truyện ngắn, chắc hẳn công việc đầu tiên là giới thiệu tóm lược câu chuyện xảy ra trong đó. Nhưng thực sự là không thể làm như thế với Hạc vàng, bởi nó là Hậu hiện đại. Một trong những cơ sở của thủ pháp Hậu hiện đại là giải cấu trúc, nghĩa là phải phá vỡ, phải hóa giải cấu trúc – một hệ thống khép kín tồn tại trong những sáng tác văn chương. Hãy tự đọc tác phẩm và tùy anh, yêu hay ghét nó.

Nhật Chiêu không xây dựng một cốt truyện hoàn chỉnh có mở đầu và có kết thúc. Hạc vàng của ông chỉ là những phiến đoạn đặt cạnh nhau, không coi cái nào là trọng tâm, không có phiến đoạn nào là thứ yếu. Mười một phiến đoạn bình đẳng, ngang hàng nhau. Và cũng không hề xen vào một lời bình luận nào giữa chúng. Tính phiến đoạn là thủ pháp của nghệ thuật Hậu hiện đại.

Hậu hiện đại là trào lưu của cái nhìn, đưa ta về với thế giới như nó vốn là, không gán thêm bất kỳ ý nghĩa nào cho nó. Đây là mảnh đất của tự do: tự do tư tưởng, tự do sáng tạo, tự do sống…

Hạc vàng của Nhật Chiêu rất tự do, không bị gò bó trong một thủ pháp khu định nào. Hình thức biểu hiện của truyện ngắn này là sự góp mặt của rất nhiều thể loại: hát nói, văn xuôi, thơ tự do, lục bát, ca dao.

“Mẹ ơi, đó là con vịt bị ốm à?
Không phải đâu.
Chắc là ngỗng con đang nhớ bố?
Không phải.”

“Nhất lung thiên địa tàng thân tiểu
Hạc đã quên bay, cánh hạc vàng!
Hạc vàng nhất khứ,
Vĩnh cửu quy hồi”

Sự tìm kiếm những cách diễn đạt mới như trên làm cho hình thức tác phẩm Hậu hiện đại trở nên đa dạng.

Nhìn ở một góc độ nào đó, Hạc vàng giống như một bài hát nói chính cách mười một câu với kết cấu: mưỡu đầu – trổ đầu (gồm 4 phần 1, 2, 3, 4) – trổ giữa (5, 6, 7, 8) – trổ cuối (9, 10, 11). Trong đó, phần thứ mười (10) có chứa mưỡu hậu và câu keo:

Hư không đâu, bóng dương tà?
Mang mang cát bụi, còn ta với sầu
Tan nghìn xưa, nát nghìn sau!

Đây chính là sự vận dụng nghệ thuật nhại đùa Hậu hiện đại của tác giả Nhật Chiêu. Hình thức nhại đùa không có ý phỉ báng hay giễu cợt, đơn giản nó chỉ muốn cho người đọc trong một lúc tìm thấy nhiều cách viết khác nhau về cùng một đối tượng.

 

Trong tác phẩm của mình, Nhật Chiêu đã sử dụng rất nhiều yếu tố nhại đùa.
Ông nhại lại bài thơ Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu.

Hạc vàng nhất khứ,
Vĩnh cửu quy hồi.

So với:
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Ông đã dịch bài thơ nổi tiếng này sang tiếng Việt bằng thể lục bát, và giờ đây, ông cũng nhại lại bài dịch ấy của mình trong hai câu mưỡu ở phần đầu truyện ngắn:

Chở tiên đi, cánh hạc vàng
Bỏ hư không lại còn Hoàng hạc lâu

Trong bản dịch bài Đăng An Lục tây lâu của Triệu Hỗ, Nhật Chiêu viết:
Lầu gác ngày ngày mở tiệc chơi

Mây mưa ngầm đổi người ca múa
Sông núi không ngưng chén khóc cười

Thì trong Hạc vàng ông nhại rằng:
Mây mưa ngầm đổi
Người ca múa rồi
Giữa thinh không ấy
Nửa chừng cuộc chơi.
Còn:
Xe xe, bụi bụi,
Ma ma, người người

Phải chăng tác giả muốn nhại lại Phản chiêu hồn của Nguyễn Du?
Hay hình ảnh con cò chết rũ trên cây trong ca dao Việt Nam đã trở thành “cánh hạc vàng chết rũ trong lồng”. Mà hình ảnh cái lồng mà ông nhắc đến ở đây và ở trong phần một của truyện ngắn phải chăng cũng là sự nhại đùa cái lồng trong sở thú nơi nhốt những anh hùng của chốn rừng xanh như trong thơ của Rainer Maria Rilke (bài Con báo), hay cũi sắt giam cầm sự oai nghiêm của chúa tể sơn lâm trong Nhớ rừng của Thế Lữ…

Sự nhại lại hướng người đọc đến cách đọc liên văn bản. Qua đó chủ nghĩa Hậu hiện đại cho rằng không có cái mới vì cái mới chẳng qua là sự tái sắp xếp những điều đã có từ xưa. Những cái nhại lại của Nhật Chiêu trong Hạc vàng không phải là cái mới hay chính là cái mới?
Trở lại với tính chất phiến đoạn trong truyện ngắn Hạc vàng. Mười một phần xếp ngang bằng nhau cho chúng ta mười một mảnh vỡ từ cuộc sống. Những đoạn đối thoại xuất hiện gần như trong tất cả các phần.

Mi có biết thành phố lớn này thật sự là lớn không?
Mi có biết trường Đại học này thật sự là vĩ đại không?
Mi có biết cái lồng dựng trước cổng Đại học này thật sự là cái lồng bao la không?

Đây là những đại tự sự nhai đi nhai lại với một lòng tự hào không giấu giếm để bắt ép hoàng hạc phải tỏ ra vui mừng khi được nhốt trong một cái lồng bao la, trước một cái trường vĩ đại của một thành phố lớn. Trong khi thế giới chỉ là một tinh cầu bé nhỏ! Trong khi hoàng hạc được xem là linh điểu xứ thần tiên! Nực cười thay cho sự bao la ấy.

Chim vàng một thuở
Rơi thì đã rơi!

Hạc vàng đã lạc giữa trần gian, nơi không thể trở về, nơi đầy rẫy lũ chim anh vũ nhảm nhí, nơi sự thay đổi đến không gì cưỡng lại được, nơi người và ma lẫn lộn.

Ta là Hạc Vàng. Như ta vẫn là.

Không gì là thật và không gì là giả. Hãy nhìn hạc vàng là hạc vàng. Hạc vàng đã đến như nó chính là, cớ sao không chấp nhận nó, cớ sao lại hỏi chuyện thần tiên.

Vị giáo sư bày tỏ tham vọng biến hạc vàng từ một “hình tượng” thơ ca thành một “hình ảnh” để giải phẫu kiếm tìm chân lý thơ ca. Hạc vàng đã sống cả nghìn năm.

Lời đề nghị của chủ gánh xiếc biến hạc vàng thành trò mua vui cho thiên hạ. Nhà thiết kế thời trang muốn đổi lấy những chiếc lông vàng thần tiên. Nhà sử gia muốn đưa hạc vàng vào “chính sử”. Cõi trần gian chỉ là những lời đề nghị thực dụng và thô thiển với cánh hạc thiêng liêng, cánh hạc của thi ca.

Hạc vàng bất tử. Bi kịch của những kẻ bất tử.

Và đến phần mười một, những cái kết thúc diễn ra, mơ hồ với câu hỏi lớn dành cho độc giả. Hạc vàng sẽ ra sao?

Trong thế giới mà vẻ bề ngoài vật chất luôn được quan trọng hóa: “thực sự lớn” hay “thực sự vĩ đại”.

Trong thế giới mà những kẻ nhảm nhí thường được đắc chí.

Trong thế giới bất định và hỗn loạn mà vẫn có những kẻ muốn đặt nó trong tầm kiểm soát, muốn biết hết, muốn đạt đến “chân lý tuyệt đối”.

Trong thế giới mà vẻ đẹp của thơ ca bị trần trụi hóa.

Trong thế giới chữ tiền choáng ngợp. “Ngàn năm bay mà không có một xu”.

Trong một thế giới thích phô trương. Thơ ca là “pô – em” hay “pô – anh” nhỉ?

Trong thế giới mà bằng cấp quan trọng hơn thực học. Buồn cười thay cho vị giáo sư của Tôi À À của trường Đại học vĩ đại kia, không nói được một câu cho rõ ràng mà cứ muốn đuổi bắt cho được nàng thơ trong hạc vàng.

Chỗ của hạc vàng không phải là ở trong lồng, dù là cái lồng bao la đến mấy. Chỗ của hạc vàng là bầu trời cao xanh tự do của thơ ca mà thiếu nó, hạc vàng cũng chỉ là, “một con chim, ờ nhỉ!”.

Có một nhà thơ xuất hiện, nhẹ nhàng mở cửa lồng. Bạn có thấy gì không? Câu chuyện Hạc vàng ngừng tại chỗ ấy.

Lê Thị Hồng Nhung

 

Posted in VỀ NHẬT CHIÊU | Tagged , | Leave a comment

Động Từ Thức

Tôi vừa bước ra khỏi Động. Tôi đã lưu trú ở đó bao lâu rồi cũng không rõ. Chỉ biết là hơn hai ngàn lá trắng. Ở đó mỗi người có một cây lá trắng. Cây lá trắng của tôi là thời gian của tôi. Ngoài ra, không có dụng cụ nào khác để tính thời khắc. Mỗi chiếc lá trắng rơi, tôi đếm. Tất nhiên là nó rơi không đều. Bao lâu thì lá rơi, tôi không biết. Đến chiếc lá thứ hai ngàn, tôi không đếm nữa. Chán, thế thôi.

Tôi bước ngay xuống đường phố. Làm gì đây? Về nhà, có lẽ. Nhưng mà những gì đó có trước khi vào Động, tôi không còn nhớ. Khi tôi đếm lá trắng rơi, ký ức dần dần bị bôi xoá như thể mỗi chiếc lá có năng lực của cái tẩy. Cứ thế, ký ức thời Trước-Động biến mất hồi nào không hay.

Vậy thì, tôi là ai, trong thành phố nào? Đây, một thành phố chìm trong sương mù như thể được vây phủ bằng những chiếc lá trắng lơ lửng.

Chỉ còn một cách để có lý do đi lại trong thành phố này: Hỏi thăm xem có ai nhận ra tôi không?

Giao lộ mà tôi đang đứng có nhiều bảng chỉ đường. Những cái phố mang tên gọi thật đơn giản: Phố Đông, Phố Tây…

Tôi rẽ vào Phố Tây. Bên lề đường, một chú cún con dắt một cụ già đi dạo. Bàn tay phải gầy guộc của cụ già đưa về phía trước, rõ ràng đang bị một sợi dây vô hình kéo đi, và cụ riu ríu bước theo, cam chịu và tự nguyện.

Cụ ơi, cụ có nhớ tôi không? (Ấy là tôi hỏi, tôi van nài) Tôi là ai?

Cơ mà… (Ông lão nói, giọng thều thào) ta không biết, ta còn không nhớ bản thân ta nữa là!

Bất ngờ, con chó nhỏ lồng lên, bỗng phóng chạy như bay. Và cụ già, tuy lẩy bẩy là thế, vẫn bốc mình lên mà bay theo nó. Cả hai lướt bổng trên mặt đất, nhưng chỉ cách đầu ngọn cỏ một chút. Có ngã nhào xuống đất cũng không hề hấn gì đâu, tôi tự nhủ.

“Lão ngư và tiểu tử”. Tranh của họa sĩ Leng Mei (1896-1938). (Ảnh: fortuneart)

Tôi ghé vào một công viên. Lá bàng vàng rực, óng ả khắp nơi. Những chiếc lá chết ấy sao mà đẹp. Có giống loài nào chết mà đẹp như thế không? Dưới gốc cây bàng lớn nhất, có một đôi trai gái loã thể đang ân ái. Họ nằm lên lá bàng, một thảm lá óng ả vàng rực. Và lá bàng từ trên cây tiếp tục rơi trên mình trần của họ, làm thành một tấm chăn vàng óng. Lá và lá ngân nga rì rào rạo rực bên dưới và bên trên hai tấm thân mềm mại đang cuộn, đang rướn, đang phủ, đang lăn.

Tôi quỳ xuống bên họ.

Làm ơn nói cho tôi biết anh có nhớ tôi không? (Tôi hỏi người thanh niên đang ngậm đầu vú người yêu) Tôi là ai?

Gương mặt chàng trẻ tuổi ngước lên, rời khỏi bầu ngực trắng ngần của cô gái.

Xin lỗi, tôi rất tiếc (Chàng nói). Tôi có biết một người giống ông. Đó là bạn thân của tôi. Nhưng hôm nay là ngày anh ấy tự tử. Ở đâu đó, anh ấy đã điện thoại báo cho tôi biết như vậy.

Tôi nhìn đôi vú cô gái. Ở trong Động, trái cây thường có hình dáng như thế này, mũm mĩm, và luôn luôn mơn mởn, bao giờ cũng chín mọng, ướt sương, lại vừa tầm tay với.

Còn em? (Tôi hỏi cô gái). Em không từng gặp tôi sao? Chưa bao giờ à?

Xin lỗi, em rất tiếc! (Nàng nói). Nhưng nếu anh có ảnh, em sẽ hỏi các bạn gái xem sao, chắc sẽ có đứa biết anh.

Tôi không có ảnh và có thể cũng không có bóng. Vì thế đôi trai gái tiếp tục làm tình, tôi tiếp tục đi, rời công viên.

Gần cuối phố, một ngôi chùa hiu quạnh hiện ra, cổng đóng kín. Im ỉm, lạnh lẽo. Trên bậc thềm, một thùng giấy đang khóc, có một em bé sơ sinh trong ấy, dường như vừa bị bỏ rơi, chuyện nhỏ trong thành phố lớn.

Em ơi (Tôi nói), mẹ em là ai vậy?

Làm sao biết được? Làm sao biết được? (Em bé gào lên, gào với gió lạnh).

Tôi quay đi. Thế ư? Tôi tiếp tục hỏi chứ? Hỏi về cái gì bây giờ?

Ngược về phía tôi, một con gấu đen lừng lững đi tới. Đồng hành với nó là một anh hề vừa đi vừa tung hứng mấy quả bóng con.

À, ông gấu (Tôi nói khi chúng tôi gần chạm mặt nhau), có thể ngày xưa còn bé, tôi đi xem xiếc và đã gặp ông, dù rằng tôi không nhớ gì hết. Có thể ông biết cậu bé ấy, là tôi đấy. Vậy xin hỏi, tôi là ai?

Vô số cậu bé, cô bé (Gấu nói) hâm mộ tôi, làm sao tôi nhớ nổi chứ? Ông thử hỏi anh hề xem.

Anh hề tung hết những quả bóng lên không, và chúng biến mất, như những quả cầu tuyết thình lình tan rã. Tôi chưa kịp hỏi gì thì anh hề đã hát:

Mi từ đâu đến Mi đến từ đâu Từ đâu mi đến Đến đâu mi từ… Mi đâu đâu mi Mi đến mi đâu Đến đâu đâu đến Mi từ từ mi…

Và cứ thế anh hề vừa hát vừa nhảy tung tăng. Trong sương mù, anh tung hứng bản thân anh. Con gấu đen nặng nề lẽo đẽo đi theo anh. Cả hai khuất dần từ lâu mà tiếng hát vẫn còn tung hứng bên tai tôi. Khi anh hề ngưng tiếng thì con gấu cất giọng ồm ồm mà hát nhại:

Từ mi đến đâu Mi mi từ từ Đâu đâu đến đến Từ MI đến MI…

Trời ơi, từ MI đến MI, đó có phải là hành trình dài nhất kể từ khi tôi bước ra khỏi hang động?

Tôi rẽ vào Phố Đông. Một ngôi đền lớn bất ngờ mọc lên, chắn đường. Được rồi, tôi sẽ hỏi thần linh.

Trước cổng đền là một linga bằng đá, đen bóng và to như một người trưởng thành. Linga, vị thần vĩ đại nhất đây mà. Nhưng mà bên dưới, đài yoni đang đỡ thần đấy thôi.

Linga tôn quý (Tôi chắp tay mà nói), tôi không nhớ mình là ai. Linga thì biết phải không?

Nhưng linh tượng im lặng. Có lẽ nó đã im lặng nghìn năm nay. Linga không nói, linga chỉ phát tiết tinh anh. Như mọi linga to nhỏ trong cõi đời.

Đêm tối xuống tự bao giờ tôi không hay. Tôi lầm lũi đi trong đêm tối, trong sương mù, trong hoang liêu, trong đói lạnh.

Từ sâu thẳm đêm đen, một dòng sông đổ ra, tuôn trào trên đường phố. Như thể từ đất đá bỗng dưng sóng dậy, bỗng dưng triều lên. Sóng và sóng của nó nhảy múa, xô đẩy nhau, vừa lao đi, rung chuông lầm rầm, lao xao, long bong, vừa hát:

Ta là dòng sông không tên Lênh đênh lênh đênh… Ta là dòng sông của đêm Lênh đênh lênh đênh… Ta là dòng sông lãng quên Lênh đênh lênh đênh…

Tôi ngồi xuống bên bờ sông vô danh. Có thể theo thói quen kinh điển, tôi khóc chăng? Không, không khóc. Tôi quyết định như thế. Thế là tôi cười. Cất giọng cho cao mà cười. Cười vang dội.

Tiếu ngạo càn khôn, tôi cười.

(Trích trong tập “Truyện ngắn Sài Gòn I”, NXB Văn Nghệ 2006)

Posted in TRUYỆN NGẮN - SÁNG TÁC | Tagged , | Leave a comment

Đồng trinh

1.

 

Ai thế, giọng nói thì thầm trong đêm? Đã mấy đêm rồi, giọng nói bí ẩn cứ thoảng vào tai tôi. Giọng nói là ai và tại sao lại tìm đến đây?

Tôi là… Nhưng em cừ thật, chẳng sợ gì hết! Còn bé thế này, đêm tối thế này. Em đã nghe rõ giọng tôi rồi chứ?

Nói thì phải nói rõ, em không sợ đâu. Vì em là Alice mà, không sợ thế giới kỳ ảo nào hết!

À phải, em rất giống Alice.

Còn anh?

Tôi là… một linh hồn.

Vậy là ma rồi, eo ôi!

Thôi mà, đừng làm bộ, em sợ gì ma! Tôi sẽ gọi em là A nhé, gọi tắt theo Alice ấy mà.

Còn anh?

Một chữ Hồn là đủ. Hồn ơi, Hồn hỡi… Em cứ gọi thế.

_____________________________________________

 

Ta là dấu lặng giữa chừng hai dấu nhạc

Mà hiếm khi hoà một điệu trầm

Vì dấu nhạc mang tên là cái chết

Vẫn thường lấn át cả thang âm.

Đến khi mà cả hai hoà hợp

Trong quãng giữa của bóng đêm ngây ngất

Thì bài ca vô nhiễm lại vang ngân.

Rilke

_____________________________________________

 

Thế thì A bắt đầu nhé: Hồn đến đây làm gì?

Ta là một cô hồn lang thang trong vũ trụ, và một hôm nhìn xuống thế gian…

Đừng nói là nhìn thấy A nhé, xưa rồi!

Nhưng chính xác là thế mà! Và ta muốn làm bạn với A. Một tình bạn vĩnh cửu. Dù ta biết là không hề có vĩnh cửu.

Không có cũng được. Nhưng anh có biết hát không?

Ta thường chỉ hát một mình, nhưng nếu A muốn, ta sẽ hát cho A nghe:

 

Ôi hãy để tôi yêu tình yêu của tôi

cho riêng mình tôi thôi

Và tự nhận biết cái mà mình biết

cho một thế giới không hay không biết

Không có ai chứng kiến

một bóng ảo ghé chơi

Không nhìn thấy gì hết

thì không thấy thế thôi

Để cho tôi yêu tình yêu của tôi…

 

Hay quá! Lời của ai thế?

Ca từ của Clough.

Một người trong thế giới của anh à?

Đúng vậy. Và ta sẽ hát tiếp, ru cho A ngủ nhé! Đây là bài hát của chính ta:

 

Ôi đêm!

Ta dong linh hồn mình

Như một con đom đóm…

 

2.

 

Thưa bác sĩ, kết quả siêu âm thế nào ạ?

Con gái bà có thai, năm tuần.

Có thai? Không thể được!

Tại sao không?

Nó chỉ mới mười ba tuổi.

Và đã trễ kinh hơn hai tuần? Vì thế bà mới dẫn cô bé đến đây chứ gì?

Vâng, nhưng thưa bác sĩ, nó còn trinh.

Sao bà biết?

Tôi là mẹ của nó mà.

Thì sao? Bà có thấy hình tròn này trên phiếu kết quả không? Đây này!

Cái hình tròn nhỏ xíu này ư, nó là cái gì?

Túi thai, bà hiểu không?

Không thể nào!

Không thể nào cái gì chứ? Bà là bác sĩ hay tôi?

Tôi thề với bác sĩ, con gái tôi đồng trinh. Hay là… có sự nhầm lẫn! Chắc không phải lúc nào máy móc cũng chính xác chứ?

Trong trường hợp này,rất tiếc, thưa bà, không còn gì phải nghi ngờ nữa hết!

Nhưng tôi tuyệt đối tin tưởng con gái tôi đồng trinh!

A, như thế thì đó là một phép lạ!

Phép lạ? Đúng thế! Tại sao tôi không nghĩ ra? Cám ơn bác sĩ. Đây chỉ là một phép lạ mà thôi. Con gái tôi đồng trinh nhưng đã có thai!

Tuỳ bà. Nếu bà muốn nhìn thấy phép lạ thì phép lạ ở mọi nơi. Bản thân việc thụ thai đã là một phép lạ của vũ trụ rồi đấy!

 

3.

 

Anh ạ, có một phép lạ vừa xảy ra trong nhà mình, cho Alice của mình.

Gì thế? Chẳng lẽ các tượng thánh của bà lại toả hào quang? Hay lại khóc nữa đây?

Không. Ông nghe đây, Alice có thai.

Cái gì cơ?

Tự nhiên mà có thai, dù vẫn còn trinh nguyên.

Tự nhiên? Em có điên không?

Không.

Làm sao em biết nó có thai?

Kết quả siêu âm.

Và siêu âm cũng nói rằng nó còn đồng trinh?

Bác sĩ bảo rằng đó là phép lạ.

A, lại còn thế! Con em quả là đang tiếp nhận một phép lạ kinh khủng.

Con em ư? Thế anh là cái gì?

Tôi đầu tắt mặt tối, còn đâu thì giờ để dòm ngó đến Alice. Hơn nữa, mẹ thì phải canh giữ trinh tiết của con gái chứ!

Tôi canh giữ, luôn luôn canh giữ. Một người làm vườn chuyên tâm nhất đối với mảnh vườn con nhà mình cũng không thể có cặp mắt canh phòng như tôi.

Vậy thì ngày nào cũng đi gội đầu, gọt giũa móng tay, đến hồ bơi… cũng là quan tâm đến con gái ư?

Những lúc ấy, Alice ở lớp học. Chuyện gì có thể xảy ra ở lớp học chứ?

Có chắc nó chỉ ở lớp học không?

Nó luôn đi cùng với bạn gái thân nhất mà.

Vậy là đáng tin ư?

Anh nghe đây, tôi tin con gái tôi. Khi chưa gặp anh, tôi còn trinh nguyên. Alice chưa gặp ai hết. Nó như in tờ giấy trắng.

Tờ giấy trắng mười ba tuổi!

Anh vẫn còn nhớ tuổi của con ư? Với lứa tuổi này, làm sao nó biết chuyện đó?

Hỏi tôi ư? Khi nó đã có thai! Mẹ con hay nhỉ!

Nhưng tôi quả quyết với anh, Alice của mình vô tội!

 

4.

 

Thưa cha, nếu không có tội thì có thể xưng tội không?

Con ơi, không tội thì cớ gì lại xưng?

Vì thế này… thưa cha… con có thai.

À, con bao nhiêu tuổi?

Mười ba, thưa cha.

Chúa ơi, và con đang có thai?

Dạ, vì thế…

Thế là con phạm tội rồi. Con đã ăn trái cấm. Trái cấm ngon lắm phải không?

Con không biết, thưa cha.

Tại sao còn nói là vô tội?

Nhưng con có làm gì đâu?

Có thể con không làm gì. Nhưng ai đó hẳn đã làm gì với con, phải không?

Không, thưa cha, không có ai cả.

Có thể con bị lừa, bị mê… mà không hay biết. Hãy cố nhớ lại xem. Có lúc nào con ngủ mà gần bên con lại có người khác giới nào không?

Không, không có đâu cha.

Nhớ kỹ đi, có người khác giới nào từng ôm con không?

Không. Ngoài mẹ và bạn gái, chỉ có bố là đôi khi ôm con thôi.

Hay là… ờ, có khi nào con ở một mình với bố không?

Cha nói gì thế?

Có nghĩa là con đồng trinh thật à?

Dạ, thưa cha.

Chắc chắn chứ?

Dạ, chắc chắn mà.

Chúa ơi, con đến đây mà không nói thật thì cha biết làm thế nào?

Con nói thật mà!

Còn non trẻ thế mà định qua mặt ta sao?

Dạ, con không hề có ý đó. Con chỉ không hiểu gì về trường hợp của mình. Vì thế con đến với cha. Có trường hợp nào tương tự như con không?

Có đấy, có một trường hợp. Và là duy nhất trên thế gian này.

Thưa cha, vậy thì…

Nhưng đừng phạm thượng! Con chớ mà nhắc đến sự vô nhiễm linh thánh tối thượng. Nếu không thì sẽ phạm tội báng bổ. Tội trọng đó con ơi!

 

5.

 

Hỡi linh hồn đêm đêm đến với em, Hồn có biết chuyện gì đang xảy ra không?

Ta biết.

Hồn ơi, đến giờ A cũng không rõ Hồn là ai kể từ dạo Hồn đến với A lần đầu tiên vào mùa xuân vừa rồi, khi  trong đêm tối giọng thì thầm mê hoặc của Hồn rót vào tai em những lời nói, lời ru. Và từ đó em chấp nhận người bạn vô hình trong đêm. Nhưng Hồn thật sự là ai, A có biết gì đâu! Vậy, hãy để A hỏi một lần nữa, Hồn là ai? Tại sao tìm đến A?

Một cô hồn, ta đã nói rồi mà. Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương. Ta tìm đến A vì A là cô gái duy nhất chịu nói chuyện với ta mà không sợ hãi gì và giữ gìn sự bí ẩn này tuyệt đối. Ta biết em đã đến chỗ cha xứ xưng tội và dù bị căn vặn đủ điều, A không hề một lời nhắc đến ta.

Em không thể nói với cha rằng em đang làm bạn với hồn ma.

Phải, làm như họ sẽ chẳng bao giờ thành ma!

Tại sao em lại có thai? Hồn nói đi!

Ta thực sự không biết. Linh hồn đâu phải điều gì cũng biết. Cái gì đã xảy ra cho em thật là huyền bí, nằm ngoài tưởng tượng của ta.

Phép lạ, huyền bí… Vậy là không ai giải thích gì hết với em.

Có thể là em quên… về một mối quan hệ nào đó chăng?

Không, em chẳng quên điều gì. A chẳng gần gũi thân thiết với anh con trai nào, nếu không kể một hồn ma! Chỉ nhớ rằng, khi  giọng điệu êm ái của Hồn hát ru em, khi em bắt đầu chìm dần vào giấc ngủ thì em luôn luôn có cảm giác được vuốt ve, những vuốt ve nhẹ nhàng như gió thoảng…

À, ta chỉ là gió…, ta muốn nói, chỉ là một linh hồn. A ơi, một linh hồn thì làm sao có thể gieo được gì vào một cơ thể chứ?

Em không biết. Ngoài điều này, em không còn một quan hệ tình tự nào khác.

A, một quan hệ tình tự. Lời nói đáng yêu vàng ngọc này lần đầu ta được nghe, một lời nói dường như làm ta hồi sinh. Một quan hệ tình tự! Trong bóng tối, ta vẫn có thể nhìn thấy A đỏ mặt!

Cơ mà… có nghĩa gì đâu! Mỗi đêm, A sống trong thế giới vô hình. Em không thấy em, không thấy anh, không thấy gì cả. Chỉ nghe một giọng nói thì thầm. Vậy mà đêm nào em cũng đợi!

Và đó là điều quá diễm phúc, A ơi, đối với một linh hồn lang thang như ta!

Rồi sẽ có lúc anh không đến nữa, không còn giọng nói trong đêm.

_____________________________________________

 

Chúng ta tựa hồ những chiếc cối xay gió

Trong một thế giới không hề có gió thổi qua!

John Fowles

_____________________________________________

 

Ta sẽ đến, A ơi, chừng nào còn có thể được!

Ngày mai vẫn đến chứ?

Hẳn rồi!

Vậy thì bây giờ A yên tâm ngủ nhé!

Ngủ đi, ta hát ru A:

 

Ôi đêm!

Ta dong linh hồn mình

Như một con đom đóm…

Qua cánh đồng thân thể em

Nhỏ bé mà vô biên

Để còn thấy mình trong khoảnh khắc

Loé sáng lung linh

Và còn chơi đùa dìu dặt

Vô ảnh, ôi vô hình…

Posted in TRUYỆN NGẮN - SÁNG TÁC | Tagged , | Leave a comment

Đảo

Công việc hằng ngày của gã là kéo thuyền thúng đưa đón khách đi thăm hòn Lam.

Kéo thuyền, chứ không phải chèo thuyền.

Hòn Lam gần bờ đến nỗi gã dầm mình trong nước kéo theo sau mình chiếc thuyền thúng lắc lư, chòng chành trên biển giữa bờ và đảo.

Thuyền thúng của gã chở cứ nhóm khách bốn người một chuyến. Đó là một loại xe kéo trên nước. Khách ngồi ngay trên mạn thuyền, đúng ra là trên vành thúng, ngồi sao cho chiếc thúng có thể bình lưu trên nước.

Đối với một số khách yếu tim, hành hương ra hòn Lam trên chiếc thuyền thúng này là một cuộc phiêu lưu thật sự. Họ sợ hãi tưởng tượng những tình huống có thể xảy ra: thuyền lập úp, thuyền va vào đá gành, thuyền vuột ra khỏi tay người kéo, bứt mình theo sóng trôi ra khơi và lúc đó ai biết cái gì đang đợi họ, hàm cá mập hay cánh tay bạch tuộc…

Hòn Lam nhỏ bé có một ngôi chùa nhỏ bé, kiến trúc lạ và xinh, cũng đôi chút tiếng tăm và được xem như là một ngôi chùa linh thiêng. Do vậy, hòn được khách thập phương ra viếng thường xuyên.

Gã là phu kéo thuyền độc nhất ở đây. Thế nên cũng đôi chút tiếng tăm, như chùa Lam vậy, là điều gã không ngờ, cũng không màng tới.

Gã hầu như câm. Không chuyện trò gì với khách. Chỉ lặng lẽ kéo thuyền. Như lăn một hòn đá lên núi trong thần thoại. Có điều, hòn đá nặng có thể tự mình lăn xuống ở lượt về. Còn thuyền thúng, đi hay về, thì cũng phải kéo. Nó không thể tự mình đưa khách vào bờ.

Người viết thì viết thế, so sánh kéo thuyền với lăn đá. Còn gã thì chỉ lẳng lặng kéo thuyền, không hơi đâu mà so sánh mình với ai, dẫu là thực tại hay thần thoại.

Người viết tiếp tục bịa đặt. Gã tiếp tục lầm lì. Thân mình vạm vỡ nhưng gương mặt xấu xí và u tối.

Thế nhưng, kéo thuyền đưa đón khách chưa chắc là công việc mà gã chú tâm. Dửng dưng với khách. Tiền nhiều tiền ít mặc kệ. Ai cho bao nhiêu, gã lấy bấy nhiêu, không buồn cảm ơn. Khách bực tức hay vui thích cũng thế thôi.

Đôi mắt gã không ánh lên điều gì ngoài cái u tối và lạnh lẽo vô hồn.

Vậy linh hồn của gã ở đâu?

Người viết thích nói rằng linh hồn không ở trong gã mà nó ở ngoài gã và nó là biển. Điều đó, cái hình ảnh linh hồn gã kéo thuyền là biển, nghe có vẻ văn chương. Nhưng nào phải thế đâu.

Đôi mắt ấy có vẻ vô hồn. Nhưng trở thành một đôi mắt khác mỗi ban mai và giờ ngọ.

Ấy là khi gã đưa đón Lam, cô bé sống trên hòn, vào bờ mỗi sớm mai và rước cô trở về hòn ban trưa. Sáng nào cô cũng đi học, trừ chủ nhật. Cô là cháu sư cụ chùa Lam, gọi cụ bằng bác.

Lam mồ côi từ bé. Đó là điểm duy nhất giống nhau giữa gã kéo thuyền u tối và cô gái nhỏ rạng ngời trên chùa.

Ở ngôi làng mà gã sinh ra có đền thờ Chúa Tiên. Gã không biết Chúa Tiên là ai. Nhưng tượng thờ rất đẹp. Nếu Chúa Tiên có thật thì chắc hẳn còn đẹp hơn gấp bội. Gã nghĩ, không có cô gái trên đời nào đẹp bằng Chúa Tiên.

Trừ một mình Lam.

Tất nhiên là Lam mà gã đưa đón mỗi buổi sáng. Lam còn là tên chùa, Lam còn là tên đảo. Trong mọi cái tên, đó là cái tên duy nhất mà gã thích thầm thì gọi lên mỗi khi gã chỉ có một mình, trên bờ biển hoặc trong túp lều của mình.

Với gã, Lam là Chúa Tiên. Với gã, cô không phải là khách, dù là đệ nhất khách. Cô là chủ nhân. Chủ nhân của điều gì? Đó là điều mà dường như gã không xác định được. Người viết đoán định, đó là biển.

Thế giới đối với gã là gì? Biển.

Cô là chủ nhân. Trước tiên, điều đó có nghĩa là, khi cô bước lên thuyền thúng, gã cương quyết không để một ai khác lên cùng, bắt họ phải đợi chuyến sau. Chỉ với cô, gã mới bắt một tấm ván mỏng lên vành thúng và cô ngồi giữa phiến gỗ ấy như ngồi trên một cái ngai.

Với ánh mắt long lanh ngời sáng một niềm hân hoan vô tả, gã kéo thuyền đi một cách nâng niu, một cách trìu mến. Như thể đó là lần đầu gã được làm công việc áp tiêu quý báu này, dù thực ra hàng ngàn lần rồi.

Chân gã dẫm trên bờ cát thoai thoải ngập nước, khéo léo lách qua những gành đá lô nhô, gắn chặt những mảnh hàu sắc cạnh như móng vuốt. Dùng bờ ngực cứng cáp như mũi thuyền rẽ sóng, gã tiến bước vững vàng trong biển xanh rờn, trông như một người khổng lồ cách đây một triệu năm. Hay hơn nữa, trông giống một loài khủng long vừa tiến hoá thành người, đứng thẳng lên, kiêu hãnh.

Lúc đó, không ai còn thấy gã xấu xí nữa. Nắng mai chói ngời trên bờ vai trần đầm đìa màu bồ quân của gã, nơi những giọt biển lấp lánh đuổi nhau rồi bốc hơi trong nắng. Mái tóc hung dày nắng cháy của gã lật tung trong gió biển, bay phần phật.

Dù gã không phải là một gương mặt anh hùng trong hình ảnh người anh hùng muôn mặt của huyền thoại sử thi (vì họ đâu kéo thuyền thúng như thế này) gã vẫn mãn nguyện được “cõng” một giai nhân vượt biển.

Khi kéo thuyền cho Lam, gã có cảm giác đang cõng nàng trên lưng. Cái thân mình tươi trẻ êm ái ấy đang áp chặt lên lưng trần của gã, vòng tay mềm dẻo ấy ôm chặt ngực gã, bờ má mượt mà ấy chạm vào bờ má gã… Đó là điều gã mơ thấy.

Mơ, đó là một cấp độ khác của thực. Khi kéo thuyền cho Lam, gã sống trong cùng một lúc nhiều cấp độ của thực tại.

Còn nàng, ngồi đó dịu dàng trên chiếc thuyền thúng lướt trôi bềnh bồng, đẹp xinh và huyền ảo như Chúa Tiên lững thững tiến về hòn đảo bé bỏng và kỳ diệu.

Đôi khi nàng hát. Tiếng ca nửa hồn nhiên trẻ thơ, nửa gợi cảm dậy thì. Giọng điệu vừa chơi đùa nhí nhảnh vừa e ấp ngượng ngùng.

 

Biển xanh

Bầu trời xanh

Đã ngàn năm lấp lánh

Vẫn thanh xuân không ngừng.

 

Sóng xanh

Ngàn nụ hôn

Bờ môi trăng thấp thoáng

Nhịp triều lên thì thầm.

 

Gió xanh

Cung đàn xanh

Tình mạnh hơn giông tố

Rung ngàn năm tiếng huyền.

 

Nắng xanh

Linh hồn xanh

Biển là gương vô tận

Nằm soi bóng thiên thanh.

 

Bài hát nói gì gã thực tình không hiểu. Chỉ nghe giọng nàng ngân nga. Dầm mình trong biển, đồng thời đắm mình trong dòng suối thanh âm ấy, gã ngây ngây ngất ngất.

Đôi khi nàng kể chuyện cho gã nghe. Đủ chuyện. Về con sóc nàng nuôi trên đảo. Con sóc biết nói. Thật đấy. Có điều nó nói bằng tiếng sóc. Nàng hiểu đôi chút ngôn ngữ đó, thậm chí còn hơn cả tiếng Anh mà nàng học ở trường. Vì khi nàng nói, con sóc hiểu nàng. Và nàng cũng biết nó muốn gì khi nó ngồi trên vai nàng, thầm thì với nàng. Thật đấy.

Và gã tin nàng. Tại sao không chứ? Trong thế giới hầu như câm lặng của mình, gã hiểu ngôn ngữ của sóng biển, của gió, của bầy nhạn đang lượn bay và đàn cá đang bơi lội. Đôi khi gã hiểu các ngôn ngữ ấy còn hơn cả tiếng người.

Nàng cũng kể chuyện về ngôi trường của mình. Những đứa bạn tinh nghịch. Người thầy mà nàng tôn thờ. Về chương trình văn nghệ một ngày lễ hội mà nàng có tham gia trong vai diễn “Cô bé bán diêm”.

Gã ấp úng hỏi:

– Không có Chúa Tiên sao?

Nàng ngạc nhiên:

– Chúa Tiên nào?

Bây giờ thì gã không ngừng hỏi, trái với thói quen im lặng cố hữu.

– Vậy “Cô bé bán diêm” là ai?

– Một cô bé nghèo, mồ côi, đáng thương. Cô lạnh, lạnh buốt xương. Thế là cô đốt lên từng que diêm. Cô thấy trong từng ánh lửa những gì cô mơ.

Bất ngờ, gã nói:

– Cô bé có thể nhìn mặt trời lặn trên biển. Đó là một que diêm khổng lồ.

Nàng reo lên:

– A, anh nói như là làm thơ. Que diêm khổng lồ! Mặt trời lặn! Hay thật!

Gã lắng nghe nhạc điệu trong tiếng nói của nàng. Và nghe mình hạnh phúc. Không ngờ được Chúa Tiên thán phục, dẫu là một câu nói, một khoảnh khắc. Như ánh lửa một que diêm.

Nhìn mặt trời lặn trên biển. Thì gã còn biết làm gì khác mỗi hoàng hôn?

Và nàng nói, nàng cũng thích nhìn mặt trời lặn. Trong ánh sáng cuối cùng của nó, nàng từng nhìn thấy biết bao nhiêu điều. Như khi cô bé bán diêm nhìn những ánh lửa nhỏ nhoi.

 

Nàng chuyển lên thành phố học. Gã không còn dịp đưa đón Chúa Tiên của mình nữa.

Chiều chiều, gã nhìn mặt trời lặn, cái que diêm khổng lồ bừng lên ánh lửa cuối cùng. Trong đó, Lam hiện ra, rất đẹp và rất buồn.

Một đêm, biển tràn ngập ánh trăng. Trên mặt sóng óng ả vàng rực, bềnh bồng muôn đoá sen xanh. Trên một đài sen lớn, Lam đang ngồi, dáng dấp như Chúa Tiên.

Vội vã lao xuống nước, gã bơi về phía đài sen. Nhưng khi bàn tay gã với gần tới đài, thì đoá sen xanh lớn lao ấy lại trôi đi, trôi ra xa… Gã bơi theo, tay cứ với tới phía hoa, hoa cứ trôi xa, trôi xa… Và gã tỉnh giấc.

Nhưng không phải giấc mơ nào cũng đẹp như vậy. Có khi biển không xanh nữa, trời không xanh nữa. Mặc dù tiếng hát của nàng về biển xanh, sóng xanh, gió xanh, nắng xanh vẫn ngân nga vang lừng. Mà biển lại đục ngầu như bùn. Trời đục ngầu như bùn. Bùn bốc mùi tanh tưởi. Xác cá chết, tôm chết trôi lềnh bềnh trên mặt biển, trong giông tố.

Rồi gã ngã bệnh, không đưa khách ra đảo nữa. Trong mái lều tranh tối mù, gã nằm bệnh. Bệnh gì, gã không biết, không quan tâm. Không ai chăm sóc.

Mỗi chiều, gã gắng gượng ra bờ biển ngắm mặt trời lặn. Mỗi chiều, gã lảo đảo hơn, loạng choạng hơn.

Một chiều, gã không ra biển nổi nữa. Kiệt sức. Đói. Mê mê tỉnh tỉnh.

Có tiếng người gọi. Có người xô cửa bước vào. Ánh tà huy cũng theo bước người lạ hắt tới tận giường gã. Người lạ đó là Lam. Ban đầu gã tưởng vậy. Nhưng đó chỉ là một thiếu phụ xa lạ, ánh mắt như que diêm đang cháy. Khi bà lên tiếng, giọng nói đầy quyền uy, mệnh lệnh:

– Ta cần ra hòn Lam ngay. Dậy đi, đưa ta đi!

Đương nhiên, trong tình trạng này, gã có thể từ chối. Nhưng không hiểu sao, gã vẫn cố gắng ngồi lên, lảo đảo bước ra cửa lều. Làn da xanh tái và ánh mắt như que diêm đang cháy, thiếu phụ đi theo gã.

Ra tới bãi, gã kéo thuyền thúng xuống nước. Người thiếu phụ ngồi vào chỗ Lam khi xưa, trên tấm ván mỏng bắc trên vành thúng. Một thứ nắng tàn thoi thóp còn vương trên núi xa và trên những ngọn cây dương cao nhất.

Dầm mình trong nước, gã kéo chiếc thuyền thúng đi. Nhưng nó không nhúc nhích. Bỗng dưng nó nặng như đá. Thân thể gã cũng nặng như đá, đổ nhào xuống nước… Và gã tỉnh giấc.

Đến mùa xuân, gã mới hồi phục.

 

Kết thúc học kỳ một, Lam trở về quê ăn Tết. Nàng rất nhớ hòn đảo nhỏ bé của mình. Đó là thế giới của nàng. Một hòn đảo nhỏ cộng với biển xanh vô tận. Như là cái tự ngã nhỏ bé cộng với vô vàn giấc mơ. Mỗi giấc mơ là con sóng. Có sóng dữ, sóng êm… Nhưng với đảo, sóng nào cũng là sóng.

Nóng lòng về đảo, nàng đi xe khách ban đêm. Sớm mai nàng sẽ có mặt trên bờ biển.

Còn đêm nay nàng sẽ thiếp dần vào giấc mơ.

Posted in TRUYỆN NGẮN - SÁNG TÁC | Tagged , | Leave a comment

Con quạ

Quán có một vọng lâu, xây theo lối cổ, phía sau giếng trời. Ngồi đây nhìn xuống hồ sen, thường chẳng thấy sen đâu, chỉ một hồ nước lạnh. Ngồi đây nhìn quanh thấy trúc, chỉ toàn là trúc. Vắng vẻ.

Tôi chỉ đến quán vào những giờ mà tôi biết quán thường vắng khách.

Trên vọng lâu có trưng bày một giàn binh khí. Ngoài ra, trên vách còn treo vài chiếc gùi có chứa dao, rìu của người Thượng. Tôi không hiểu sao một quán trà lại trưng bày gươm đao, cho dù chỉ có tính chất biểu tượng.

Tuy vậy, thích không gian quạnh hiu và lặng lẽ nơi này, tôi thường đến vọng lâu ngồi viết, sau khi gọi một bình trà hoa cúc.

Sáng nay, khi tôi đến, bà chủ quán cho tôi một quả thị thơm lừng.

— Để ông viết trong hương thơm.

Tôi reo lên:

— A, cám ơn bà, thích quá!

Bà lão có vẻ tư lự trong khi nhìn tôi ngửi quả thị, rồi bà ngập ngừng nói:

— Nhưng ông biết không, đây là một quả thị kỳ lạ. Nó gây ảo giác hoặc ác mộng cho ai để nó ở cạnh bên mình. Như vậy, ông có ngại không?

Tôi vui vẻ cười.

— Không đâu! Tôi sẽ làm việc với nó, cám ơn bà.

Leo lên vọng lâu, đến ngồi nơi chiếc bàn quen thuộc, tôi đặt quả thị trước mặt. Dầu sao đi nữa, trông nó giống như mọi quả thị bình thường. Mùi thơm cũng chẳng có gì khác lạ.

Khi đã có bình trà hoa cúc, tôi bắt đầu mở tập bản thảo viết dở. Tôi vẫn viết tay, không dùng máy tính của thế kỷ 21.

Bỗng dưng tôi thấy có hơi lạnh. Dường như ai đó đang quan sát mình. Một cái nhìn soi mói đã chạm vào làn da mình.

Cách tay phải tôi một bước… có một cô gái áng chừng 14 tuổi đang đứng lặng lẽ, không biết xuất hiện từ bao giờ.

Chỉ là một bé gái nhà quê, ăn mặc giản dị. Nhưng đôi mắt màu tím. Đúng ra là con ngươi màu tím. Kính áp tròng màu tím chăng, tôi không biết. Nhưng đôi mắt ấy đẹp dữ dội, làm tôi rùng mình.

Cô lên tiếng, không một chút e dè.

— Ông là nhà báo à?

— Không. Cô là người phục vụ mới?

— Vâng. Ông đang viết gì?

— À, tôi đang bịa đặt.

— Bịa đặt gì? Tại sao là bịa đặt?

Tôi vốn không thích loại câu hỏi ấy. Cũng như hỏi tại sao uống trà, tại sao nghe nhạc, tại sao ngắm nhìn mặt trời lặn. Vả lại, tôi không thích nói về công việc bịa đặt của mình bằng các từ lớn lao: hư cấu, sáng tạo, giả tưởng, tạo dựng nhân vật, nghệ thuật, nhân sinh… Thế nên tôi đi vòng:

— Có một nhà thơ tên là Tô Đông Pha…

— Tên lạ nhỉ!

— Ở Trung Quốc đời Tống. Ông tiếp khách, mời trà, xong rồi mới bảo: “Làm ơn nói dóc đi!” Và khách sẽ phải đáp tạ bằng một câu chuyện bịa đặt nào đó.

— Vậy mà em tưởng ông tự giới thiệu tên ông chứ! Hiểu rồi, ông giống cái ông Tô Đông Pha ấy. Nhưng tại sao phải bịa đặt?

Cô bé trở lại câu hỏi ban đầu của mình, như con muỗi bay trở lại cái chỗ mà nó muốn đốt trên da người. Vậy mà gọi là hiểu ư? Tôi vất vả với cô bé này rồi!

— Loại người như tôi sống bằng tưởng tượng, bé à.

— Ông sẽ chết nếu ngưng tưởng tượng sao?

— Cứ cho là thế đi!

— Chắc là ông chỉ tưởng tượng những gì vắng mặt mà thôi? Chứ như em ngay trước mặt ông, thì ông đâu thể tưởng tượng ra em?

— Tại sao không? Em vừa có mặt là tôi bắt đầu tưởng tượng…

— Hay quá! Vậy ông tưởng tượng thế nào về em?

— Bé là một cô gái 14 tuổi.

— Được!

— Em đến từ một thế giới khác, hoặc là thế giới bên ấy.

— Được!

— Tôi có thể tượng tượng ra tên em. Nhưng tốt hơn hết em hãy tự xưng danh.

— Được! Em là TM.

— TM à? Một nhân vật hoàn toàn nổi tiếng trong thế giới cổ tích. Một cô bé mồ côi.

— Đúng. Mọi người kẻ rằng em là một cô bé rất ngoan hiền…

Bất ngờ một con quạ đen nhánh bay vào vọng lâu, đậu trên một cây thương mạ bạc và lanh lảnh lên tiếng:

Qua quà quạ ơi!

Tức cười, tức cười!

Ta đi khắp chốn

Lại về một nơi!

 

TM lập tức xông vào con qụa. Nhưng nó lanh lẹ bay mất. Cô quay lại bên tôi. Tôi nói:

— Con quạ đó quen với bé à?

— A, ở thế giới của em thì ai cũng quen với ai cho dù cá bống, vàng anh, con quạ hay cây xoan đào.

— Con quạ đó vui thật!

Cô bé đỏ mặt, có lẽ vì tức giận:

— Bẻm mép! Nó chỉ có tài đó, ông đừng nghe nó nói linh tinh.

— Loài quạ nổi tiếng là thông minh, và người ta còn nói quạ có tài tiên tri.

— Và người ta sợ quạ!

Có tiếng bà lão gọi. MT cáo từ tôi, bước xuống thang.

Tôi toan cầm bút lên, nhưng con quạ lại xuất hiện. Lần này bạo hơn nữa, nó đậu ngay trên mặt bàn, trước mắt tôi, gần bên quả thị, và lại tự kêu:

Quạ quà quạ ơi!

 

Tôi cũng muốn trò chuyện với con chim kỳ quặc này.

— Tại sao mi phải tự gọi tên mình mỗi lần muốn nói gì đó?

— Qua quà quạ ơi! Đó là vì chách nhiệm! Phải có chách nhiệm về lời nói của mình. Tự nhắc nhở thôi mà. Và để mai kia mốt nọ đừng có ai lừa gạt mình!

Quạ quà quạ ơi!

Đi vào cõi người

Nhớ đừng quên nhé

Đừng cho ai cười!

 

Quạ quà quạ ơi

Nhớ đừng quên nhé

Chỉ tha xác chết

Chứ không tha người!

Nó làm tôi phì cười.

 

— Ha Ha! Quạ tha ma bắt! Và không bao giờ tha thứ? Mi có từng tha thứ một con quạ khác không?

— Quạ khác với quỷ nhé!

— Và người khác với quạ đấy!

— Cô TM mà ông vừa thấy đã bị giết hại nhiều lần. Điều đó cũng có thể hiểu là quá nhiều sinh mệnh bị giết hại, quá nhiều người bị giết hại. Cõi người là thế ư?

— Mi muốn nói mẹ con CM à? Họ đã giết hại TM nhiều lần?

— Còn khối chường hợp khác! Mẹ con CM chỉ là tượng chưng.

— Mẹ con CM không phải là cõi người.

— Bạo lực sinh ra bạo lực. Và tội ác luân hồi. Sẽ đến phiên mẹ con CM bị giết hại. Và cái vòng bạo lực ấy không phải là cõi người thì là gì? Tôi là con quạ từ thời cổ xưa, đã nhìn thấy xiết bao tội ác…

_____________________________________________________________________

Thế rồi, sau 40 ngày, Noah mở cửa thuyền, thả phóng một con quạ. Nó bay đi bay lại cho đến khi nước lũ rút hết và mặt đất ráo khô.

 

SÁNG THẾ (8: 6–7)

_____________________________________________________________________

 

Quạ quà quạ ơi

Hồng thuỷ đi rồi!

Cơ mà… tội ác

Tà tà sinh sôi?

 

Tôi ngẩn người ra trước con chim kỳ quặc và thông thái. Gượng nói:

— Dẫu sao, con người…

Quạ cướp lời:

— Ông còn nhớ chuyện “Cứu vật vật chả ơn, cứu nhơn nhơn chả oán” mà kinh Phật có nhắc tới không?

— Nhớ chút chút. Hình như có con quạ trong đó.

— Phải rồi! Hôm ấy một con quạ (chính là ta) rơi xuống hố sâu cùng với một sư tử, một chuột, một rắn và một thợ săn.

— Và ai ăn thịt ai?

— Không. Cả bọn được một người đốn củi cứu lên.

— Người đốn củi chắc chết?

— Không. Để trả ơn, sư tử tặng một con nai, còn ta (chính là quạ) thì tặng một chuỗi ngọc mà ta lấy cắp từ hoàng hậu.

— Người kia tặng gì?

— Không. Tên thợ săn đi tố giác người đốn củi ăn trộm chuỗi ngọc, đẩy ân nhân vào tù. Thế là bọn loài vật ta phải tính kế. Con rắn lẻn vào cung, cắn cho vua bị trúng độc, trong khi chuột lẻn vào ngục bày cho người đốn củi phương thuốc. Ông xin vào cung cứu chữa cho vua và cuối cùng được tha. Ông nghĩ sao về chuyện này?

— Mi chỉ nhìn thấy cái ác.

— Có phải con người là tối độc trong muôn loài?

— Hãy xem nàng TM ấy, nhân từ hiền dịu xiết bao!

— Ha ha, ha ha!

— Mi cười cái gì?

Con quạ vừa bay đi vừa kêu lanh lảnh:

Quạ quà quạ ơi

Tức cười, tức cười

Tương tàn huyết nhục

Mà coi, mà coi!

 

Hôm sau tôi ngồi viết nơi góc bàn quen thuộc của vọng lâu thì chính bé TM đem bình trà hoa cúc lên. Tôi không thể không trầm trồ:

— Chào TM, hôm nay bé đẹp lắm!

— Em chán làm người đẹp! Em chỉ muốn làm người hạnh phúc

— Được là xinh đẹp, đã là hạnh phúc.

— Em bị giết hại nhiều lần là bởi vì cái xinh đẹp ấy.

— Dù vậy, dường như chẳng ai giết được cái đẹp của cuộc đời này.

Đôi mắt đẹp dữ dội của TM loé lên những tia chớp đen láy.

— Em chết đi sống lại! Còn bọn chúng, mẹ con CM, em sống với bọn chằn tinh ấy và luôn bị chúng hành hạ.

— Tôi nghe nói nhiều về sự ác hiểm của mẹ con CM. Nhưng nếu chính TM kể ra thì hay biết mấy!

— Chúng đã bắt con cá bống mà em thả nuôi trong giếng lên để làm gỏi ăn. Khi em gọi bống thì chỉ thấy một hòn máu nổi lên mặt nước. Được rồi, máu sẽ đổi máu!

Chưa bao giờ và ở đâu tôi từng thấy một gương mặt xinh đẹp lại méo mó vì phẫn nộ, hận thù như ở TM lúc này.

— Một con cá bống ư? Tất nhiên mẹ con CM không phải, cơ mà…

Thấy đôi mày người đẹp cau lại, tôi bỏ lửng câu nói.

— Ông nghĩ xem, với tội ác đó, có đáng cho em xẻ thịt chúng không? Như chúng đã xẻ thịt bống bống bang bang của em?

Tôi rùng mình.

— Xẻ thịt ư? Nói chung, xẻ thịt một con người là như thế nào nhỉ?

— Rồi có ngày em xẻ thịt chúng cho coi! Còn nữa, theo lời Quạ tiên tri, thì chúng sẽ giết hại em nhiều lần khiến em phải hoá kiếp làm chim vàng anh, làm cây xoan đào, làm cái khung cửi… Ông nghĩ sao, em muốn khoét mắt con CM vì nó sẽ cướp người yêu của em!

Tôi không biết bao nhiêu hận thù trong cô gái xinh đẹp này?

 

Bẵng đi một thời gian, vì mưa dầm, tôi không đến Quán. Quạ đến tận phòng riêng ở nhà tôi, loan báo tin mới:

Quạ quà quạ ơi!

Nàng lấy vua rồi

Thế là… hòn máu

Hoá thành mưa rơi!

 

Vàng anh, vàng ảnh

Xoan đảo, xoan đào

Đầu lâu lăn lóc

Người ăn thịt nhau!

 

Tôi thở dài.

— Đúng là loại tin mà người ta mong chim quạ mang đến!

— Chúng tôi chỉ loan báo hoặc tiên tri, còn tin xấu là do con người, chứ không phải chúng tôi!

— Tôi hiểu!

Tôi đến Quán vào một ngày nắng đẹp. TM lại xuất hiện, càng đẹp hơn trước

— Chúc mừng em! Nghe nói em đã trở thành hoàng hậu trong thế giới bên ấy.

TM xịu mặt.

— Hậu gì mà hậu! Con CM cướp mất vua rồi sau khi mẹ con nó giết em, giết em, giết em!

— Nghĩa là giết em ba lần?

— Ba lần giết hại, ông nghĩ em sẽ làm gì nó?

— Mẹ con CM là ác quỷ. Còn em, em là gì hãy tự định đoạt lấy.

Bỗng dưng, con quạ bay vù đến và lại kêu lanh lảnh:

Quạ quà quạ ơi!

Cha ta dạy rồi

Ai chơi với quỷ

Thì thành tinh thôi!

 

TM lập tức rút cái rìu trong chiếc gùi treo gần đó ném thẳng vào quạ. Hét ầm lên “quạ quà quạ ơi!” Con chim đen bay ra khỏi vọng lâu. Người ta vẫn xem quạ như là một con chim cảnh báo cho loài người về những nguy cơ đang đe doạ họ.

Tôi nhìn TM đang bừng bừng lửa giận khiến mặt cô đỏ rực và đôi mắt màu tím của cô sẵn sàng thiêu cháy ai đó.

— Bình tĩnh mà em!

— Em đang đợi nó!

— Ai?

— Con CM chứ ai!

Và lập tức, CM bước vào vọng lâu trong bộ áo váy cực kỳ sang trọng. Đó cũng là một cô gái đẹp. Tuy không đẹp bằng TM. Dù sao, họ cũng là chị em.

Cô em ngồi bên chiếc bàn gần tôi, nhìn thẳng vào cô chị:

— Chị là hầu bàn của quán này à?

TM lấy lại vẻ mặt lạnh lùng, nói:

— Không. Ta là HOÀNG HẬU. Ta mượn nơi này để nói chuyện với mi!

— Câm miệng! Ta mới là Hoàng hậu.

— Phải, mi đã cướp nó!

— Để có thể sai bảo mi. Hầu bàn, đem trà lại đây!

TM cầm bình thuỷ đến gần CM. Trong tích tắc, toàn bộ nước sôi trong bình thuỷ trút lên mình CM.

Một tiếng thét khủng khiếp. TM cầm lấy chiếc rìu vừa ném hụt quạ chém xả vào người CM.

Và trước mắt tôi, người lấm đầy máu, TM bắt đầu xẻ thịt CM. Để làm mắm, cô nói, và gởi về cho bà mẹ.

Buồn nôn, tôi chạy xuống lầu.

 

Sau đó, rời thành phố tôi về một miền quê nghỉ ngơi, cố quên câu chuyện khủng khiếp đã phải chứng kiến trong những ngày qua.

Nhưng một hôm, khi ngồi viết trong vườn, tôi lại nghe tiếng kêu quạ quà quạ ơi!

Và quả nhiên, lượn một vòng quanh giàn thiên lý, quạ lại gần tôi, há mỏ buông xuống một đầu lâu người.

Đầu lâu lăn lóc trên đất.

Quạ quà quạ ơi!

Người lại giết người

Thịt người làm mắm

Mời nhau ăn chơi!

 

Thịt con mẹ nuốt

Ngon ngỏn quá trời

Còn đầu lâu đó

Lại mời mẹ xơi!

 

Tôi bực tức ngắt lời quạ:

— TM giờ ra sao rồi?

Và quạ ta lại lanh lảnh hát:

Quạ quà quạ ơi!

Lấy mạng kẻ thù

Nàng đang hạnh phúc

Cười vang trên ngôi

 

Quạ quà quạ ơi!

Tội ác luân hồi

Đầu lâu kia hỡi

Hoá kiếp đi thôi!

 

Và trước mắt tôi xuất hiện một cô gái lạ, hao hao giống CM nhưng vô cùng xinh đẹp. Còn đầu lâu thì đã biến mất.

— Em là ai?

— Hoá thân của CM.

Rồi cô hướng về con quạ đang đậu trên một tảng đá gần đó mà gào lên:

— Ta cần trả thù!

“OK!” con quạ thản nhiên đáp.

Tôi tự hỏi với nhan sắc mê hồn thế kia của cô CM hiện tại, chuyện gì mà không làm được.

Con quạ bay đi, sau khi buông một tiếng cười quái dị:

OK! Tội ác luân hồi! OK!

Posted in TRUYỆN NGẮN - SÁNG TÁC | Tagged , | Leave a comment

Cô gái có đôi mắt mèo

Ta là Mi, con mèo mun.

Ta học tiếng người từ người bạn thân của ta là Nhật Chiêu, tuổi cầm tinh con mèo. Trong khi trò chuyện, đôi khi cả hai lầm lẫn không biết ai là mèo, ai là người. Và thường kể cho nhau nghe những câu chuyện mà cả hai lắp ghép từ đủ mọi nguồn.

Ta tự hào là mèo mun.

Theo Từ điển các biểu tượng, “Con vật ấy sống bảy đời. Những thần Djin cũng hay hiện diện dưới hình dạng mèo… Mèo đen chính là thần Djin ác ý, cho nên cần phải chào nó khi giữa đêm nó vào buồng ai đó. Trong rất nhiều truyền thuyết, mèo đen là biểu tượng của bóng tối và thần chết.

Con mèo đen tuyền có những thuộc tính ma thuật. Người ta ăn thịt mèo đen, để tu luyện trở thành thuật sĩ. Lá lách của con mèo đen, nếu đeo vào cho người đàn bà đang có kinh sẽ làm người ấy hết kinh. Dùng máu mèo đen thay mực, có thể viết nên những áng văn mê hồn.”

_______________

 

Quả là tôi có mơ viết lên những áng văn mê hồn, nhưng chưa bao giờ mơ dùng máu mèo đen thay mực!

Con mèo mun mà tôi gọi tên là Mi sống với tôi từ khi nó mới một tháng tuổi, quà tặng của một người bạn thân. Tôi dạy nó tiếng người. Nhưng trí tưởng tượng của nó thì không cần tôi phải khơi gợi.

Thế nên xin các bạn hãy cảnh giác những gì nó kể. Có thể là sự thực đấy, cơ mà biết đâu?

“Sự thật! Nhưng tưởng tượng cũng là sự thật.” Khái Hưng nói thế, nếu tôi nhớ không lầm.

_______________

 

Ta sẵn sàng hiến máu. Chà, những áng văn mê hồn!

Nhưng bản thân những con mèo đã là những áng văn mê hồn rồi, không phải như vậy sao?

Chính vì thế mà Doris Lessing phải kêu lên: “Nếu một con cá là vận động của nước hiện thân, tượng hình, thì mèo là biểu đồ và hình mẫu của không khí mê ly. Ôi mèo!… Mèo, mèo, mèo, mèo.”

_______________

 

Con mèo của tôi thường ngồi trên mái nhà nhìn trăng say đắm mà hát lên vần thơ Mèo và trăng của William Butler Yeats:

Khi quyến thuộc gặp nhau,

Có gì hơn nhảy múa?

Biết đâu trăng có thể

Học điệu múa nơi mèo?

_______________

 

Hôm nay, khi Nhật Chiêu ngồi viết cái gì đó ngoài vườn thì ta phóng từ mái nhà xuống, nhảy phốc lên chiếc ghế mây bên cạnh ông và chào bằng một lời quen thuộc mọi ngày: Meo meo, một ngày hạnh phúc!

Lời chào đó phần nào dựa vào câu nói xác đáng của Stanley Spencer: “Nơi đâu một con mèo đến ngồi, là nơi đó hiện ra hạnh phúc.”

Chào Mi, một ngày hạnh phúc! Mi vừa làm gì trên mái?

Một chuyện tức cười thôi! Ngồi tán gẫu với mấy con mèo hàng xóm. Bỗng dưng trên trời xuất hiện một vật thể lạ, bay lơ lửng, trắng ngà. Cả bọn sửng sốt, hoang mang và bắt đầu ý kiến:

Đĩa bay đấy!

Ừ, phải rồi và chắc là có chở một chú mèo hành tinh.

Mèo ư, không phải là người à?

Có hành tinh của mèo, ở đó mèo là sinh vật thượng đẳng.

Ừ, phải rồi. Sẽ có ngày họ xuống dạy chúng ta lật đổ loài người.

Tuy ý kiến đó quá khích, nhưng ông biết rồi đó, mèo là giống ưa nổi loạn và luôn luôn kiêu hãnh đã xuất hiện trên mặt đất này trước con người rất lâu. Hơn nữa, con mèo trứ danh của Natsume Soseki từng nói rằng: “Đương nhiên rồi cả con người cũng không thể nào huy hoàng vĩnh viễn. Ta nghĩ tốt hơn hết là nên lặng lẽ chờ đợi Ngày của Mèo.”

Ta biết, quyển Tôi là con mèo của Soseki là kinh thánh của các ngươi. Vì mèo luôn luôn thích đem con người ra giễu cợt. Và Soseki đã viết theo điểm nhìn đó của mèo, làm nên một kiệt tác đáng gọi là tuyệt cú mèo, phải không?

Ta biết, mèo là loài biết sống một mình. Làm bạn với con người nhưng vẫn bảo toàn tự do của mình.

Tôi rất mê đoạn văn Con mèo đi một mình của Rudyard Kipling mà ông thường đọc cho tôi nghe: “Và khi trăng lên đêm về, hắn lại là con mèo đi một mình. Hắn ra ngoài, đến với Rừng Râm Rú Rậm, hay đi lên Cây Cao Cành Cả, hoặc bước trên Mái Mơ Mái Mộng, vẫy cái đuôi hoang dã mà đi trong cô đơn hoang dã.”

Nhớ hay đấy, nhưng vật bay lạ kia liệu có hoang dã không?

Chỉ có tôi không tin đó là đĩa bay. Lại càng không tin là có mèo nào đang điều khiển nó. Vả lại, ngạn ngữ loài mèo có câu: “Trong mắt mèo, mọi thứ đều meo meo.” Nhưng mà, mèo cũng như người, thường sống bằng ảo tưởng. Mèo có mơ không? Khỏi nói, luôn luôn mơ ngày mơ trăng. Vì thế bọn mèo tiếp tục tranh cãi:

Đó là một vị thần?

Ái chà, thần linh đã chết hết rồi kia mà.

Thần linh của loài khác có chết hết đi nữa thì cũng còn thần linh của riêng loài mèo. Tôi tin bóng hình đang bay kia chính là nữ thần Bast của chúng ta, nữ thần của Hoan Lạc đang múa theo nhạc trời. Nhờ nàng mà chúng ta sinh sôi.

Nghe hay nhỉ! Có những thần tượng của con người bỗng dưng hiện ra trong mây, bỗng dưng trào rơi nước mắt, bỗng dưng lướt đi trên mặt nước bao la trước đôi mắt cả tin của con người. Mèo ơi mèo, sao mi giống người đến thế!

Thì bầy đàn mà, đâu chả thế! Lại tiếp tục bàn tán về vật lạ:

Meo meo, eo ơi, hay đó là ma! Không thấy nó trắng toát à?

Ai đời ma hiện giữa ban ngày!

Có đủ loại yêu ma mà

Coi chừng đó chỉ là một loài chim.

Nếu mà nó bay gần, sẽ cho nó biết tay!

Đại bàng đấy!

Đại bàng cũng không sợ!

Chỉ được cái khoác lác!

Tôi chán nghe bọn họ đấu hót nên nhảy xuống đây với ông.

Được, vậy theo Mi, vật bay đó là gì?

Tôi không biết và không muốn làm bộ rằng mình biết. Nếu có thiền sư Nam Tuyền ở đây, ông sẽ chém cái gì?

Hoan hô, vật bay đó đang đáp xuống kìa, sau lưng Mi, và đó chỉ là chiếc nón lá không có quai. Ha ha!

Trời ạ, nón lá! Xấu hổ chưa!

Cảnh vừa rồi thực ra là gì? Cứ như là bắt chước một câu chuyện bằng thơ tên là U.F.O của Paul Gallico đang ở trước mặt ta đây. Để ta đọc cho mi nghe:

Xin chào, Vật Lạ Đang Bay

Từ trời xa vô tận đến đây

Từ nguồn nào, khi nao bạn đến

Thoát vòng ôm và những vòng quay

Rời hang động sao trời vĩnh cửu

Vượt thời gian không có đêm ngày

Bắc cầu qua ngàn năm ánh sáng

Đến cùng tôi chói rạng hôm nay…

 

Hãy xuống đi bạn hỡi

Đọc tôi nghe bí ẩn Vô Biên

Kể tôi nghe câu chuyện u huyền

Cho dù ai xui bạn đến

Thì đó cũng là nhân duyên.

 

Vật thể bay kì diệu ơi

Bạn…

A, a…

Bạn… là cái gì kia chao ôi!

Chỉ là túi giấy đỏ thôi

Rỗng không và cũ kĩ,

Chẳng ngoài trời đến, chẳng xa xôi

Nhìn một chút, đúng như tôi nghĩ

Ai không từng lầm lẫn khi chơi

Chỉ thương ôi thơ ca hoài phí!

Bài thơ viết từ điểm nhìn của một chú mèo con, Mi thấy thế nào?

Ai mà chẳng lầm!

Ta cũng có một câu chuyện muốn kể với Mi

Không phải vật bay nữa chứ?

Không, một sinh vật lạ lùng! Mi biết, ta thường đi bộ vào ban đêm trên phố. Và mới đây, ta gặp một cô gái không giống với bất kỳ ai trên đời.

Đẹp lắm ư?

Hơn là đẹp nhiều, bởi quá ư huyền bí. Nàng luôn luôn mặt áo nhung, dáng đi vô cùng uyển chuyển.

Có gì lạ kia chứ?

Trên gương mặt trái xoan trắng ngần là đôi mắt mèo thuần tuý, to tròn và xanh biếc, lại có thể đổi màu như mã não. Đồng tử thì giãn nở vô chừng. Tóm lại, đôi mắt nàng giống hệt mắt Mi, mà còn đẹp hơn bội phần!

Tuyệt vời! Và ông nên biết, trường nhìn của mắt mèo là 275 độ trong khi con người chỉ có trường nhìn 150 độ. Lại có thể nhìn xuyên đêm tối. Vừa đẹp vừa hữu ích vô cùng, phải không?

Đúng thế, đôi mắt ấy đáng cho Baudelaire ca ngợi như ông từng ca ngợi đôi mắt của nàng Féline:

Người Trung Hoa báo giờ bằng cách xem mắt mèo…

Còn tôi, tôi nhìn vào mắt nàng Féline xinh đẹp…

Dù đêm hay ngày, trong ánh trời sáng tươi hay bóng đêm mờ ảo, tôi luôn luôn thấy rõ giờ giấc trong đáy mắt nàng diễm tuyệt…

Vâng, tôi nhìn thấy giờ: đó là Thiên thu!

 

Trên hè phố hẹp, nàng và ta hầu như chạm mặt nhau, và ta bỗng dưng nhìn thấy đồng tử trong đôi mắt tròn của nàng thu hẹp lại như là tim sen.

Đồng tử thu hẹp, ông có biết là gì không? Đó chính là tình yêu ở loài mèo.

Thật không? Nàng là mèo ư?

Ông đã gặp cô gái có đôi mắt mèo. Nàng là ai? Đó là nữ chúa của chúng tôi. Tôi đi dạo trong rừng nhiều lần vào những đêm trăng, rất thường gặp nàng.

Chẳng lẽ cô gái đẹp như tiên ấy chỉ là một con mèo? Giống như câu chuyện vật thể bay của Mi?

Khác! Vật bay vừa rồi chỉ là sự ngộ nhận như là nhìn dây thừng hoá rắn. Còn cô gái có đôi mắt mèo, đẹp như tiên ấy là một thế giới mà chưa ai từng biết đến! Con người biết quá nhiều thứ nhưng chưa từng biết rõ loài mèo chúng tôi, tình yêu chúng tôi.

Ta từng nhìn thấy Mi ngồi trên mái nhà, mê mải nhìn trăng không biết bao nhiêu lần. Đó có phải là tình yêu ở mèo? Như nhà thơ Kyorai miêu tả:

Không bạn tình đêm nay

Mèo nhìn trời thăm thẳm

Mà hát gào bi ai

Tình yêu ấy sâu như đêm tối, khó mà biểu hiện ra lời cho dù là thơ ca tuyệt tác.

Hãy giúp ta gặp nàng, được không?

Tôi chưa hề từ chối ông điều gì.

Vào lúc nào đây?

Một đêm trăng. Và chỉ có thể đưa ông đi khi ông đang ngủ. Và xin nói trước, chỉ linh hồn ông là có thể theo tôi.

 

Rồi nó nhăn mặt cười và biến mất.

Khiến cho tôi nhớ con mèo Cheshire của Lewis Carroll:

“Được thôi, mèo nói; và lần này nó biến mất từ từ, từ chót đuôi trở đi, cuối cùng mới đến cái cười nhăn mặt, cái cười còn lưu lại hồi lâu sau khi mọi ngấn tích của mèo đã biến đi.

Chà! Mình thường thấy một con mèo không có cái cười nhăn mặt nào cả, Alice tự nhủ; nhưng một cái cười nhăn mặt mà không có mèo ư? Đó là chuyện lạ mà mình chưa từng thấy trong đời!”

 

Và trong giấc mơ đêm ấy, tôi thấy cô gái có đôi mắt mèo nhíu mày cười với tôi. Khi nàng biến mất, cái cười nhíu mày vẫn còn lại, bay về phía ánh trăng, đến nỗi không còn phân biệt đâu là trăng, đâu là nét môi cười.*

Posted in TRUYỆN NGẮN - SÁNG TÁC | Tagged , | Leave a comment

Chúng ta cần sống thật

Nhật Chiêu không chỉ là một dịch giả mà còn là tác giả Việt gần gũi và “hiểu văn học Nhật kỳ lạ”. Dịch giả Nhật Kato (người dịch Thi xa vng sang tiếng Nhật) xuýt xoa như thế sau bài phát biểu của nhà nghiên cứu văn học, dịch giả Nhật Chiêu tại hội thảo Thế gii ca Haruki Murakami và Banana Yoshimoto diễn ra tại Hà Nội vừa qua.

Dịch giả Kato đã không ngờ một người Việt lại tri âm, tri kỷ văn học Nhật đến vậy. Quả thật, với Nhật Chiêu, văn học Nhật đã ngấm vào máu. Những truyện ngắn ký tên Nhật Chiêu xuất hiện trên báo chí gần đây cũng thấy phảng phất phong vị văn chương Nhật.

+ Trong hội thảo về văn học Nhật vừa qua, ông rút ra được những vấn đề gì, nhìn nhận gì, thưa ông?

– Một hội thảo ngắn, nhiệt tình, sôi nổi, cùng nhìn ra vấn đề hiện nay của văn học Nhật qua chính những tác phẩm (đến với độc giả Việt gần đây như Rừng Na Uy, Ông la hán ngồi…). Họ nói được người Nhật bây giờ sống trong một thế giới phẳng như thế nào. Chứ không còn là người Nhật mặc kimono, uống trà đạo.

+ Nhìn vào văn học đương đại Việt Nam gần đây, với sự du nhập khá ấn tượng từ văn học Trung Quốc với trào lưu linglei, rồi văn học Nhật Bản, chúng ta học tập được điều gì?

– Văn học VN hiện nay vẫn còn lạc hậu so với hiện tại. Con người Việt trong tác phẩm ở thời nào đó chứ không phải thời này. Người ngoại quốc đến VN vẫn gặp người Việt công sở, vẫn gặp thanh niên Việt ôm hôn nhau ngoài đường, điều đó đã rất bình thường. Nhưng trong văn học, điện ảnh họ chỉ được giới thiệu những tác phẩm hướng tới thiểu số với những hình ảnh thôn quê, dân dã ngày xa xưa theo mô típ hương xa.

Có thể với người nước ngoài, một bộ phận sẽ có cảm tình, nhưng chúng ta cần sống thật, sống trong hiện tại, và giới thiệu, quảng bá đúng hình ảnh sống mới nhất. Không ai phản đối những đề tài thiểu số đó nhưng lấy những cái đó lấn với hiện nay thì thực sự không bình thường. Từ chìa khóa của văn học đương đại đơn giản lắm: “bây giờ”. Ta cứ chăm chăm thể hiện cái thời nào đó, chăm chăm thể hiện những cái gì đó đặc sắc mà… phải kiếm tìm thì thất bại.

+ Vậy theo ông, do đâu có sự lạc hậu này?

– Văn chương bây giờ nên hướng đến những đề tài muôn thuở như tình yêu, cái chết… Cứ viết tự nhiên, bản sắc của nền văn hóa dân tộc sẽ tự nhiên lộ ra, không nên săm soi đặc biệt. Do chúng ta cứ cố ý kiếm tìm, cố ý bôi vẽ, nhầm tưởng đó là thành công, nhưng lại thất bại. Không phải cứ là con trâu, nước mắm, xe xích lô mới là VN. Thực ra đó là lạc hậu, chứ không phải là dân tộc. Thậm chí, mình còn cho Nho giáo là dân tộc. Mình quên mất rằng, thời Hùng Vương, trước khi Nho giáo vào VN, trước khi có chữ “tòng” áp vào người phụ nữ, tình yêu Tiên Dung – Chử Đồng Tử quá hiện đại và rất đẹp!

+ Một số nhà văn trẻ hiện nay đã có những hướng đi theo tiêu chí ấy. Nhưng sex và đời sống hiện đại, phá cách trong thơ văn trẻ của chúng ta tại sao khó được chấp nhận như những nước Á Đông khác?

– Các bạn trẻ đã nhập cuộc. Nhiều người cho rằng giới trẻ “quậy” quá. Nhưng tôi chỉ mong họ mạnh dạn hơn để thể hiện hiện đại hơn. Nếu có những thử nghiệm thất bại thì cũng không nên bài xích mà coi đó là sự bình thường. Tuy nhiên, nhà văn trẻ cần xác định, so với đại chúng, nhà văn phải đứng trên một tầm văn hóa cao để viết.

Murakami viết những cuộc làm tình có thể dễ dị ứng với người Á Đông, nhưng tác giả có cái tầm, không nhìn tự nhiên dung tục, mà nhìn với tầm cao nên những chuyện đồng tính, tình dục vẫn đẹp vì ông viết bằng cái Đẹp, hướng về cái Đẹp chứ không hề cố tình phá phách, cố tình dung tục. Viết chân thật có văn hóa thì bất cứ chuyện gì cũng có thể viết đẹp. Tiếc là một số những cây bút trẻ Việt Nam lại lạc hướng vào sự dung tục nhiều hơn cái nhìn văn hóa về đời sống.

+ Ông sáng tác truyện Người ăn gió và quả chuông bay đi phải chăng để hướng tới cái Đẹp, hay ông muốn chứng tỏ nhà nghiên cứu vẫn có thể có sáng tác hay?

– Bè bạn văn nghệ có những lời khen dành cho tác phẩm mới này của tôi. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ chắc vì mọi người… quý mến mà khen quá. Điều này khiến tôi lo ngại. Nhưng là dịch giả, nhà nghiên cứu mà viết truyện đọc… cũng được là thêm một phần hạnh phúc. Bạn bè vẫn gọi tôi là “nhà văn trẻ” vì bây giờ mới xuất hiện với tư cách người sáng tác. Và hướng tới cái Đẹp, vẫn là tiêu chí mà tôi tin dù viết gì cũng không hề nhảm!

Theo THU HƯƠNG – Người Lao Động

Posted in NGUỒN VĂN | Tagged , , | Leave a comment